Việt Nam cần trở thành đất nước của vị tha và nhân ái

Thứ Sáu, 23.11.2018, 14:58

Tỷ phú Michael Bloomberg, một trong những cá nhân giàu nhất nước Mỹ vừa tuyên bố hiến tặng 1,8 tỷ USD cho Đại học John Hopkins – nơi ông lấy bằng cử nhân. Câu chuyện trên, tưởng chừng không mấy liên quan tới Việt Nam, song thực ra có rất nhiều lớp nghĩa mà chúng ta nên suy ngẫm.

Tỷ phú Bloomberg, người cũng từng được bầu làm thị trưởng New York, đã hiến tặng 1,8 tỷ USD cho ngôi trường cũ mà ông theo học.

Xin được bắt đầu bằng câu chuyện của một nhà giàu Mỹ khác, người đã làm rất nhiều việc để tiếp sức cho Việt Nam. Đó là tỷ phú Chuck Feeney – người tích lũy được gia sản hơn 1 tỷ USD từ chuỗi cửa hàng miễn thuế Duty Free Shop ở các sân bay trên khắp nước Mỹ, trong giai đoạn 1998 – 2006 đã tài trợ tổng cộng gần 220 triệu USD cho các đề án giáo dục, y tế, thư viện, … ở Việt Nam, từ Cần Thơ ra miền Trung, lên đến Thái Nguyên. Chưa hết, Quỹ Atlantic Philanthropies của ông còn tài trợ gần một nửa chi phí xây dựng – khoảng 33,5 triệu USD – cho Đại học RMIT tại khu đô thị Phú Mỹ Hưng (Nam Sài Gòn), làm nên một ngôi trường danh giá bậc nhất từ trên mảnh đất hoang, quanh năm ngập úng, với mục tiêu lấy một đại học hiện đại để “làm mẫu” cho Việt Nam – theo tâm nguyện của Thủ tướng Phan Văn Khải khi ấy. Ông đã sống, làm việc và cống hiến đúng với tinh thần của chủ nghĩa nhân ái (philanthropy): “Cho ai con cá, nuôi người đó một ngày. Dạy ai câu cá, nuôi người đó cả đời.” Vì sao một người hoàn toàn xa lạ, từ nửa kia của Địa cầu, và cũng chẳng có mấy liên hệ với Việt Nam (khác với cố Thượng Nghị sĩ John McCain hay cựu Ngoại trưởng John Kerry … Feeney không hề tham chiến tại Việt Nam) lại có thể giành cho chúng ta một trái tim và tấm lòng vàng đến như vậy? Hãy cùng nghe những lời bộc bạch của ông: “Tôi cảm thấy Việt Nam giống như ngọn đèn, còn tôi là con mối, và mối cứ thấy đèn thì lại lao vào.”

Chẳng hề có mấy liên hệ với Việt Nam, nhưng Chuck Feeney đã ủng hộ và tiếp sức rất nhiều cho đất nước này.

Khi đề cập đến những tố chất và tính cách của dân Anh – Mỹ (người Anglo – Saxxon), có thể thấy họ rất cá nhân chủ nghĩa, tư bản chủ nghĩa, nhưng lại cực kỳ giàu lòng nhân ái. Còn lòng vị kỷ, khi được khai sáng sẽ biến thành đức tính vị tha. Hãy xem các nhà hoạt động nhân ái đầu thế kỷ 20 của Mỹ như Andrew Carnegie, Leland Stanford, hay Ezra Cornell, Henry Ford, John Rockefeller … từ hơn 100 năm trước đã biết tự bỏ tiền ra xây dựng các đại học vĩ đại như Johns Hopkins, Cornell, Stanford, Chicago, Rockefeller … vì biết rằng bản thân mình đang phải hái những trái (quả) thấp, cho nên nếu muốn các thế hệ sau được hái những trái cao hơn thì phải hướng đến bậc thang của tri thức. Khoảng 50 năm sau, các đại học tư lập đó thăng hoa, đạt tới vị thế chưa từng có và phục vụ đắc lực cho nền kinh tế lẫn sự thống trị toàn cầu của Mỹ. Và truyền thống ấy, ngày hôm nay vẫn đang được vợ chồng Bill Gates, Mark Zuckerberg, Warren Buffet, Chuck Feeney hay Michael Bloomberg … tiếp nối và truyền lại cho các thế hệ sau nữa. Có thể thấy, người Mỹ, nhất là tầng lớp tinh anh thường có tinh thần trách nhiệm cao và tầm nhìn rất xa – sản phẩm kết tinh của rất nhiều yếu tố, từ nền dân chủ ăn sâu bám rễ, bản sắc văn hóa (vừa vị kỷ, vừa nhân ái), đời sống tinh thần phong phú và đức tin tôn giáo. Trong cuốn Nền đạo đức Tin lành và Tinh thần của Chủ nghĩa tư bản, nhà xã hội học Max Webber lý giải, ở những quốc gia chịu nhiều ảnh hưởng của Tin lành, người dân thường có xu hướng tự kêu gọi và tổ chức lại với nhau để làm các việc tốt, cho bản thân, gia đình, cộng đồng và cả xã hội chứ không bao giờ chịu ngồi yên một chỗ để chờ vào sự ban phát của chính quyền. Ngoài ra, các thiết chế chính trị ở những nơi này cũng thường khuyến khích người dân tự làm như vậy, bởi chính quyền nhận thức được rằng, có những việc họ sẽ không thể làm tốt bằng việc khuyến khích người dân tự làm. Bởi vậy nên nước Mỹ thường không bao giờ đánh thuế lên các tài sản được hiến tặng cho y tế, giáo dục và các mục đích từ thiện, nhân ái.

Không phải ngẫu nhiên mà các nước chịu nhiều ảnh hưởng của Tin Lành như Bắc Âu và Anh – Mỹ lại thường phát triển thịnh vượng và bền vững hơn những nơi khác.

Sau ba thập niên đổi mới và hội nhập quốc tế, xã hội Việt Nam hôm nay đã khá lên thấy rõ, với số lượng người gia nhập tầng lớp trung lưu, giàu có ngày càng đông đảo, thậm chí còn xuất hiện cả những tỷ phú đô la như Phạm Nhật Vượng (Vin Group), Nguyễn Thị Phương Thảo (VietJet), Trần Đình Long (Hòa Phát) và Trần Bá Dương (Trường Hải) – bên cạnh khối tài sản kếch xù, trở thành động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đem đến công ăn việc làm cho người lao động, còn là những tấm gương đi đầu trong các hoạt động nhân ái, từ thiện, phát triển bền vững. Như thời gian gần đây, tập đoàn Vin Group đã góp phần thổi bùng lên ngọn gió của sự hứng khởi và niềm hy vọng mới khi cam kết sẽ đầu tư mạnh mẽ cho y tế, giáo dục và khoa học công nghệ. Tuy nhiên, dường như chúng ta vẫn đang thiếu đi một thứ gì đó … Bởi nếu nhìn lại, đa số các hoạt động từ thiện hay hiến tặng ở Việt Nam vẫn chỉ là “cho con cá” để xoa dịu nỗi khổ trước mắt, hay đổ vào tôn giáo, tâm linh như xây chùa, đúc tượng để xoa dịu nổi khổ tinh thần, và để hy vọng vào phúc đức cá nhân của người hiến tặng. Chưa kể, đôi khi những nghĩa cử cao đẹp ấy, chưa hẳn đã xuất phát từ lòng vị tha, mà lại là để phục vụ những mục đích khác như PR, quảng bá hình ảnh cho các phi vụ làm ăn mới; chẳng hạn hệ thống trường học và chuỗi bệnh viện của VinGroup chắc chắn là để hướng tới tầng lớp trên của xã hội (với thu nhập cao, đủ sức chi trả cho dịch vụ) chứ không phải giành cho đại chúng. Để lý giải cho hiện tượng này thì có nhiều nguyên nhân, song một phần cũng bởi cách làm giàu của người Việt Nam chúng ta vẫn còn dựa trên mối quan hệ và móc ngoặc với chính quyền nhiều quá, khi các nhóm lợi ích thường tìm cách tranh nhau nắm giữ các nguồn lực, tước đoạt tài nguyên của đất nước – nhất là đất đai, và cùng với đó là cơ hội của người khác. Chẳng thế mà có tới hơn 70% khiếu kiện ở Việt Nam là liên quan đến đất đai.

Đại học Vin University được xây dựng trong khu Đô thị Vin City Gia Lâm, chắc chắn là sẽ có mức học phí rất cao và không giành cho người có thu nhập thấp.

Sau cùng, mặc dù không thể so sánh với văn hóa và tinh thần của người dân ở các nước phương Tây, bởi xuất phát điểm của chúng ta phải chậm hơn họ có đến cả trăm năm, tuy nhiên đó vẫn là một mô hình xã hội lý tưởng mà Việt Nam cần hướng đến. Trong thời gian tới, bên cạnh những nỗ lực cải cách thể chế kinh tế – chính trị theo hướng lành mạnh, kiến tạo và công bằng hơn, chúng ta cũng nên có những chiến lược để nhân rộng tinh thần nhân ái ra khắp xã hội. Chí ít, cần phải có một tổ chức để vinh danh những cá nhân tử tế, những tấm lòng vị tha để phát huy tiếng gọi của trái tim – Việt Nam nhất định phải là đất nước của lòng vị tha và tinh thần nhân ái.