Việt Nam cần thức tỉnh sau cái tát của người Nhật

Thứ Tư, 05.12.2018, 15:01

Đại sứ Nhật Bản Umeda Kunio vừa gửi thư tới các lãnh đạo Việt Nam bày tỏ quan ngại về tiến độ triển khai, cấp vốn cho dự án Metro số 1 (Bến Thành – Suối Tiên) khi số tiền chậm thanh toán cho các nhà thầu đã lên tới gần 100 triệu USD … và nếu tình không được cải thiện, nguy cơ công trình bị buộc phải ngừng thi công là hoàn toàn có thể xảy ra.

Đại sứ Nhật Bản gửi thư bày tỏ quan ngại về dự án xây dựng tuyến Metro số 1 của TP. HCM

Là công trình trọng điểm, mang ý nghĩa chiến lược quốc gia, dự án Metro (trong đó có tuyến số 1) được kỳ vọng sẽ làm thay đổi hẳn bộ mặt của TP. HCM như một siêu đô thị mới, năng động và đẳng cấp trong khu vực, cho nên nếu vì bất cứ lý do nào mà dự án bị trì hoãn, thậm chí không thể hoàn thành, thì đó thực sự sẽ là một thảm họa, đe dọa nghiêm trọng tiền đồ của cả thành phố (nói riêng) lẫn đất nước (nói chung).

Mặc dù số nợ 100 triệu USD (tính đến 16/11/2018) không phải là quá lớn tới mức không thể trả nổi, nhất là đối với một đô thị giàu nhất nước như TP. HCM (thu ngân sách hơn 370 ngàn tỷ VNĐ năm 2017), bên cạnh nhiều lý do để biện minh cho tình cảnh này (chẳng hạn chính sự chậm trễ trong khâu giải phóng mặt bằng đã khiến thời gian bàn giao một số hạng mục bị chậm trễ so với kế hoạch, khiến Sở Kế hoạch & Đầu tư TP.HCM không thể ứng tiền thanh toán, …) nhưng đây thật sự là một cái tát của người Nhật mà Việt Nam nên nhận lấy để có thể thức tỉnh, bởi chúng ta không thể cứ mãi phát triển theo cung cách hiện nay.

Ai cũng biết hoạt động đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng căn bản đóng vai trò quan trọng thế nào đối với sự phát triển kinh tế của mọi đất nước. Trong trường hợp của Việt Nam, các đô thị đông đúc và đang ngày càng quá tải như TP. HCM và Hà Nội chắc chắn sẽ không thể không cần đến những hệ thống metro (hay đường sắt đô thị) đồng bộ, hiện đại … nhằm giảm tải bớt áp lực. Nhưng điều đáng ngại ở đây là, không hiểu vì lý do gì (hoặc giả hầu như ai cũng biết, nhưng không hề muốn thay đổi), mà quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu ở Việt Nam lại thường gặp rất nhiều gian nan, với chi phí đắt đỏ vượt xa thế giới. Chẳng hạn, nếu tuyến đường sắt trên cao Cát Linh – Hà Đông ở Hà Nội đang gặp rất nhiều vấn đề (đội vốn, chậm tiến độ, lo ngại nguy cơ mất an toàn …) với nhà thầu Trung Quốc, thì đến cả TP. HCM (vốn có cơ chế thông thoáng và cởi mở hơn nhiều) cũng không tránh khỏi vết xe đổ tương tự, mặc dù đã lựa chọn đối tác Nhật Bản (vốn được đánh giá hơn hẳn Trung Quốc về uy tín, năng lực, chất lượng và tinh thần trách nhiệm).

Không hiểu sao mà chi phí xây dựng cơ bản ở Việt Nam thường đắt gấp 3-4 lần các nước phát triển, nhưng chất lượng lại tệ hơn nhiều.

Hãy xem, kể từ khi chính thức được phê duyệt và khởi công, tuyến metro Bến Thành – Suối Tiên đã liên tục lâm vào cảnh đói vốn và đội chi phí (từ 17.3888 tỷ lên đến 47.000 tỷ VNĐ), dẫn tới chậm giải ngân và càng làm tăng gắng nặng nợ nần. Thế nhưng, lời giải thích sau đây của Bộ Kế hoạch & Đầu tư về “nguyên nhân dẫn đến việc phải điều chỉnh mức đầu tư của dự án” xem ra có vẻ lại không mấy thuyết phục, rằng “đó là do gia tăng khối lượng xây dựng; Cũng bởi Việt Nam chưa có các quy chuẩn, định mức, đơn giá áp dụng cho đường sắt đô thị, cho nên việc xác định tổng mức đầu tư chủ yếu lại phải dựa trên suất đầu tư của các công trình tương tự đã và đang xây dựng tại châu Á, dẫn tới độ tin cậy không cao và phải điều chỉnh lại.” Cá nhân người viết tin rằng, căn nguyên sâu xa của vấn đề không chỉ thuần túy nằm ở khía cạnh kỹ thuật – thứ không khó để khắc phục, mà trở ngại lớn nhất, thực chất lại nằm ở sức ì của thể chế và con người. Vì vậy, chúng ta cần nghiêm khắc soi lại bản thân mình.

Thứ nhất, có những thứ phải tự mình làm (nhất là liên quan đến câu chuyện phát triển), bằng các nguồn lực của chính mình chứ không thể mãi trông chờ vào người ngoài. Trong quá khứ, Nhật Bản và sau này là Hàn Quốc và Đài Loan đều từng nhận viện trợ, nhưng không nhiều và chỉ trong một thời gian ngắn, sau đó trở nên hùng mạnh và tài trợ ngược lại cho các nước khác. Việt Nam có tiềm năng phát triển rất lớn và một thị trường sắp đạt 100 triệu dân, tại sao lại không làm được như họ?

Thứ hai, bản thân người Nhật, mặc dù rất có thiện cảm với Việt Nam, nhưng chắc chắn là không bao giờ chịu cho không ai cái gì, mà thường phải đi kèm với lợi ích, như tạo công ăn việc làm cho các nhà thầu và chuyên gia, chuẩn bị để trải thảm đỏ đón các doanh nghiệp của họ sang đầu tư … Và không chỉ Nhật, cả người Hàn, Đài Loan hay Trung Quốc cũng hoàn toàn có những động cơ tương tự. Vì vậy, nên xem xét và điều chỉnh lại chính sách ưu đãi (đang có phần hơi quá đáng) với các doanh nghiệp và chuyên gia nước ngoài.

Thứ ba, cần hết sức tránh viễn cảnh, khi không thể mãi vay tiền Nhật hoặc có vay bao nhiêu cũng không đủ, chúng ta lại chuyển sang phụ thuộc nhiều hơn vào một đối tác không mấy làm tốt đẹp (kéo theo rất nhiều nguy cơ về an ninh và đòi hỏi lãnh thổ) là Trung Quốc.

Thứ tư, cần sớm chấm dứt nghịch lý, trong lúc đang rất khát vốn cho các công trình hạ tầng trọng điểm, mang ý nghĩa chiến lược, thì hàng năm nhà nước vẫn phải đổ rất nhiều tiền (ước tính cả trăm ngàn tỷ VNĐ) cho các tổ chức, hội đoàn như Mặt trận Tổ Quốc, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân … thực chất không đóng góp được nhiều cho hoạt động đổi mới, sáng tạo, phát triển … mà thường xuyên chỉ biết tổ chức kỷ niệm, hát hò hay trao thưởng.

Thứ năm, các bộ, ngành của chúng ta vẫn đang được tổ chức và vận hành quá chồng chéo, dẫn tới kém hiệu quả, đôi khi còn ngáng chân nhau. Chẳng hạn, như trong trường hợp của dự án Metro Bến Thành – Suối Tiên, vai trò của các Bộ Giao thông Vận tải, Xây dựng, Kế hoạch & Đầu tư và Tài chính là gì?, cùng với đó là các sở liên quan … Tại sao chúng ta không sáp nhập hai Bộ Kế hoạch & Đầu tư và Tài chính, rồi Bộ Giao thông Vận tải với Xây dựng lại với nhau? Như thế sẽ giúp bộ máy trở nên gọn nhẹ và tự quyết định được nhiều vấn đề hơn, đi cùng với trách nhiệm.

Thứ sáu, có lẽ nên sớm trao cho TP. HCM và Hà Nội cơ chế đặc thù hơn, như “chính quyền đô thị” nhằm làm tăng tính phân quyền và khả năng tự quyết. Như hiện nay, TP. HCM mặc dù dẫn đầu cả nước về thu ngân sách (gần bằng 30% của cả nước), nhưng lại chỉ được giữ lại một phần rất nhỏ để đầu tư, phát triển, trong khi các tỉnh nghèo như Yên Bái, Sơn La, Thanh Hóa, Hà Tĩnh … hàng năm lại nhận được rất nhiều vốn cứu trợ từ Trung ương. Chúng ta không thể mãi áp đặt chính sách “cào bằng” hay “lấy chỗ thiếu bù chỗ dư” như vậy được.

Cả TP. HCM lẫn Hà Nội cần sớm có Metro để phục vụ nhu cầu đi lại của người dân. Do đó, phải hoàn thành công trình bằng mọi giá.

Trên đây chỉ là một vài đề nghị theo thiển ý của cá nhân người viết, những mong đóng góp một phần nhỏ vào công cuộc đổi mới tư duy quản trị và phát triển đất nước. Nhưng trước đó, các lãnh đạo Chính phủ và thành ủy TP. HCM cần sớm giải quyết những khúc mắc với nhà thầu Nhật, để dự án Metro sớm được hoàn thành và đi vào phục vụ nhu cầu của người dân.