BBT

Nơi lưu trữ những bài viết của các Ban Biên Tập, các bài viết được chọn lựa kỹ càng được lấy từ các nguồn tin đáng tin cậy

Tinh giản biên chế phần nhiều do về hưu sớm: Vì đâu?

Thứ Tư, 21.11.2018, 09:59

Hơn 40.000 người được tinh giản biên chế trong hơn 3 năm qua, 86% là về hưu trước tuổi.

Báo cáo của TS. Tạ Ngọc Hải – Viện khoa học tổ chức nhà nước, Bộ Nội vụ tại Diễn đàn Khoa học “Tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức theo tinh thần Nghị quyết Số 39-NQ/TW” đánh giá chi tiết về kết quả thực hiện và các thách thức đặt ra trong quá trình thực hiện Nghị quyết 39.

Tinh gian bien che phan nhieu do ve huu som: Vi dau?

Gần 4 năm đã tinh giản hơn 40.000 biên chế nhưng chủ yếu là về hưu sớm.

Báo cáo nêu rõ, kết quả tổng hợp về công tác tinh giản biên chế cho thấy, tổng số người tinh giản biên chế được Bộ Nội vụ thẩm tra từ năm 2015 đến ngày 10/10/2018 là 40.491 người (năm 2015 là 5.778 người; năm 2016 là 11.923 người; năm 2017 là 12.660 người và 10 tháng đầu năm 2018 là 10.130 người).

Trong đó hưởng chính sách về hưu trước tuổi là 34.939 người chiếm 86,32%; hưởng chính sách thôi việc ngay là 5.483 người chiếm 13, 51%; hưởng chính sách thôi việc sau khi đi học là 29 người chiếm 0,07%; hướng chính sách chuyển sang các tổ chức không hưởng lương thường xuyên từ ngân sách nhà nước 40 người chiếm 0,10%.

 

Cụ thể, Bộ Công thương đã cắt giảm 5 đầu mối (từ 35 Vụ, Cục và tương đương xuống còn 30 đầu mối, trong đó có 26 đơn vị hành chính và 4 đơn vị sự nghiệp công lập).

Bộ Công thương cũng đã sáp nhập, hợp nhất một số đơn vị như: Vụ Phát triển nguồn nhân lực sáp nhập vào Vụ Tổ chức cán bộ; Vụ Thi đua khen thưởng sáp nhập vào Văn phòng Bộ; Vụ Thị trường châu Á – Thái Bình Dương và Vụ Thị trường châu Phi, Tây Á, Nam Á thành Vụ Thị trường châu Á – châu Phi; Vụ Thị trường châu  Âu với Vụ Thị trường châu Mỹ thành Vụ Thị trường châu  Âu – châu Mỹ; Viện Nghiên cứu chiến lược, chính sách Công nghiệp với Viện Nghiên cứu Thương mại thành Viện Nghiên cứu chiến lược, chính sách Công Thương…

Tại các Cục, Vụ, Văn phòng Bộ, Thanh tra Bộ cũng đã cắt giảm 72 đơn vị cấp phòng (tương đương giảm 36,5% số phòng).

Bộ Nội vụ đã sắp xếp lại các đơn vị bên trong, giảm từ 24 xuống còn 17 đơn vị. Bộ sẽ đảm bảo yêu cầu giảm tối thiểu 10% biên chế sau sắp xếp các đơn vị sự nghiệp công lập

Các địa phương đã nỗ lực thực hiện rà soát, sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy như: Tỉnh Lào Cai tiến hành sáp nhập Sở Giao thông vận tải và Sở Xây dựng thành Sở Giao thông vận tải – Xây dựng.

Sau khi tiến hành rà soát, sắp xếp tính đến thời điểm 31/3/2018 Yên Bái đã giảm được 238/1.197 cơ quan, tổ chức hành chính, đơn vị sự nghiệp. Trong đó, cấp tỉnh giảm 90 đơn vị, gồm 36 phòng, cơ quan chuyên môn các sở, ban, ngành và 54 đơn vị sự nghiệp; cấp huyện, giảm 148/634 đơn vị, gồm: 20 đơn vị sự nghiệp, 128 trường học.

Tại Bình Thuận, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã chọn huyện Phú Quý để triển khai thực hiện thí điểm hợp nhất Văn phòng Huyện ủy, Văn phòng Hội đồng nhân dân và Văn phòng Ủy ban nhân dân huyện (triển khai từ tháng 9/2018). Hiện đã có 10 đơn vị của Bình Thuận thực hiện việc bố trí Trưởng ban Tuyên giáo đồng thời là Giám đốc Trung tâm Bồi dưỡng chính trị cấp huyện, từ tháng 6/2018.

Thách thức nhất khi tinh giản biên chế

Đánh giá về các khó khăn trong công tác tinh giản biên chế, tái cơ cấu đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, báo cáo của Viện Khoa học tổ chức Nhà nước nêu rõ một số vấn đề.

Thứ nhất là rào cản về tâm lý, đặc biệt là tình trạng thiếu kiên quyết, nể nang, né tránh, ngại va chạm, muốn giữ ổn định tổ chức, bộ máy và biên chế hiện tại của các cơ quan, đơn vị trong khu vực nhà nước.

Nghị định số 108/2014/NĐ-CP ngày 20 tháng 11 năm 2014 của Chính phủ về chính sách tinh giản biên chế đã quy định người đứng đầu phải chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện tinh giản biên chế trong cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao quản lý theo thẩm quyền.

Theo đánh giá chung, hầu hết các cơ quan, đơn vị, địa phương trong cả nước đều tồn tại tình trạng có một số cán bộ, công chức, viên chức “ngồi chơi, xơi nước”, không đảm đương được công việc theo vị trí công tác, nhưng vẫn trong biên chế, không thể tinh giản được một phần do sự thiếu kiên quyết của người đứng đầu.

Có một số lượng khá lớn cán bộ, công chức, viên chức đủ điều kiện để nghỉ hưu trước tuổi, hưởng chế độ, chính sách tinh giản biên chế, nhưng do rào cản tâm lý nên không muốn nghỉ việc theo diện tinh giản biên chế và tìm đủ mọi điều kiện, lý do hoặc chạy chọt để “thoát khỏi” diện tinh giản biên chế của cơ quan.

Ngoài ra, vẫn còn tồn tại tình trạng lãnh đạo cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương lợi dụng thực hiện chủ trương tinh giản biên chế để “chèn ép”, loại ra khỏi tổ chức những cá nhân không thuộc “nhóm ủng hộ” mình trong cơ quan.

Thứ hai, mục tiêu tinh giản biên chế là loại ra khỏi cơ quan, tổ chức, đơn vị những người không đáp ứng yêu cầu công việc.

Tuy nhiên, trong thực tế thì có một số người đáp ứng yêu cầu công việc, năng lực tốt, nhưng do đảm nhiệm quá nhiều công việc, tuổi tác cũng gần đến thời gian đủ tuổi nghỉ hưu.

Một số người khác trong cùng cơ quan làm việc ít mà quyền lợi nhiều gây tình trạng thiếu công bằng, gây tâm lý chán nản.  Nhiều người tìm đủ mọi điều kiện để bản thân được nghỉ hưu trước tuổi, hưởng chế độ chính sách.

Thứ ba, thiếu nhân sự thực hiện nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị khi thực hiện tinh giản biên chế, vì theo nguyên tắc ra 2 vào 1, nên các cơ quan, đơn vị, địa phương không quyết liệt trong thực hiện tinh giản.  Đơn vị “già hóa” lực lượng cán bộ và đơn vị “trẻ hóa” lực lượng cán bộ cũng đều gặp khó.

 

Thứ tư, khó thực hiện thành công chỉ tiêu tinh giản tối thiểu 10% biên chế theo quy định. Nguyên nhân chủ yếu của vấn đề này là tinh giản biên chế phải đảm bảo đúng đối tượng, điều kiện, nhưng khi áp dụng vào thực tế thì rất khó thực hiện và rất ít người thuộc đối tượng tinh giản biên chế.

Do đó, ấn định tỷ lệ tinh giản tối thiểu 10% biên chế cho các cơ quan, đơn vị, địa phương là không phù hợp, gây rất nhiều khó khăn trong thực hiện.

Tinh giản biên chế phải gắn với đánh giá, nhận xét cán bộ và sắp xếp tổ chức, bộ máy, nhưng theo quy định thì mỗi cơ quan, đơn vị, địa phương phải xây dựng kế hoạch tinh giản biên chế cho cả giai đoạn 2015 – 2021, trong khi nhận xét, đánh giá cán bộ, công chức tính theo từng năm.

Báo cáo nhấn mạnh, các cơ quan, đơn vị, địa phương không thể dự kiến được số lượng tinh giản là bao nhiêu để đưa vào kế hoạch thực hiện và nếu không có đối tượng thuộc diện tinh giản biên chế thì không thể xây dựng kế hoạch để thực hiện được.

Thứ năm, sự bất cập, thiếu đồng bộ trong quy định về đối tượng, điều kiện và phê duyệt danh sách tinh giản biên chế.

Theo quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 6 Nghị định 108/2014/NĐ-CP ngày 20 tháng 11 năm 2014 của Chính phủ về chính sách tinh giản biên chế có đối tượng tinh giản là “chưa đạt trình độ đào tạo theo tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ quy định đối với vị trí việc làm đang đảm nhiệm, nhưng không có vị trí việc làm khác phù hợp để bố trí và không thể bố trí đào tạo lại để chuẩn hóa về chuyên môn”.

Tuy nhiên khi thẩm định, phê duyệt danh sách tinh giản biên chế, Bộ Nội vụ lại xét đối tượng này kèm theo điều kiện về kết quả đánh giá, phân loại trong thực hiện nhiệm vụ chuyên môn quy định tại điểm đ, e khoản 1, Điều 6 (Nghị định nêu trên) trong khi đây là 02 đối tượng riêng.

Thứ sáu, chế độ, chính sách đối với những người nghỉ việc thuộc diện tinh giản biên chế chưa phù hợp.

Ví như, cán bộ, công chức, viên chức đảm bảo điều kiện để nghỉ hưu trước tuổi còn dưới 2 năm công tác khi nghỉ việc theo diện tinh giản biên chế sẽ không được hưởng bất kỳ chế độ, chính sách nào ngoài chế độ hưu trí là bất cập. Xem xét lại điều này một cách thỏa đáng để hạn chế thấp nhất vấn đề tâm tư và thể hiện tính nhân văn trong quản lý, sử dụng nhân sự trong khu vực công.

Thứ bảy, tình trạng phụ thuộc nguồn ngân sách bổ sung từ Trung ương.

Ví dụ: tại tỉnh Bến Tre, cán bộ, công chức, viên chức trong khu vực công chiếm số lượng rất lớn, gần 29.000 người. Trong khi nguồn ngân sách tỉnh bị hạn chế, nguồn ngân sách từ Trung ương phải chịu thêm áp lực.

Thứ tám, việc đổi mới quản lý biên chế theo vị trí việc làm và tiêu chuẩn chức danh công chức, viên chức là tiền đề để triển khai thực hiện việc khoán quỹ lương và chi hành chính.

Tuy nhiên, sự chậm trễ trong việc xây dựng, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt Đề án vị trí việc làm và tiêu chuẩn chức danh công chức, viên chức thực hiện chậm, lúng túng, không thực chất.

Giải pháp nào cho tinh giản biên chế hiệu quả thực chất?

Từ các thách thức nêu trên, báo cáo nêu một số giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả Nghị quyết 39 trong thời gian tới.

TS. Tạ Ngọc Hải, Phó Viện trưởng Viện Khoa học tổ chức nhà nước, Bộ Nội vụ.

Trước mắt, cần rà soát chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan, tổ chức, cần chuyển một số nhiệm vụ mà cơ quan nhà nước không cần thiết phải trực tiếp thực hiện hoặc thực hiện không có hiệu quả sang các tổ chức ngoài nhà nước đảm nhận.

Không đưa cơ quan đại diện tại miền Trung và miền Nam vào cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; hạn chế đề xuất thành lập mới tổng cục, cục, vụ, chi cục, phòng; hạn chế thành lập phòng trong Vụ, bảo đảm tinh gọn bộ máy, hiệu lực, hiệu quả, cải cách hành chính.

Trong thực hiện tinh giản biên chế: từ nay đến năm 2021, mỗi năm Bộ, ngành, địa phương thực hiện giảm 1,5 đến 2% biên chế công chức, biên chế sự nghiệp được giao năm 2015. Trường hợp phải thành lập tổ chức mới hoặc được giao nhiệm vụ mới thì Bộ, ngành, địa phương tự cân đối, điều chỉnh trong tổng biên chế công chức hoặc biên chế sự nghiệp được cấp có thẩm quyền giao.

Đặc biệt, người đứng đầu Bộ, ngành, địa phương và người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trực thuộc Bộ, ngành, địa phương phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện tinh giản biên chế. Nếu không hoàn thành kế hoạch tinh giản biên chế đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt phải bị xử lý trách nhiệm theo quy định của Đảng, Nhà nước.