Thói quen tư duy “ngắn hạn” của nền giáo dục

Thứ Ba, 04.12.2018, 14:48

Ở Việt Nam, người ta hay nhắc đến những “chuyến tàu vét” mỗi khi một quy định về tuyển dụng, bổ nhiệm, bằng cấp nào đó thay đổi theo hướng khó hơn. Có lẽ, điều này càng được thể hiện đậm nét hơn trong ngành giáo dục. Cứ mỗi đợt nâng cao chuẩn bằng cấp diễn ra, người người, nhà nhà lại đổ xô đi thi cho kịp hạn nâng chuẩn. Người thì bảo đó là sự thông minh, biết chọn cái dễ đúng năng lực; người thì thẳng thắn nhận định đó là sự khôn lỏi của những “tư duy ngắn hạn”…

Sinh viên xếp hàng từ đêm khuya để đăng ký thi tiếng Anh

Những ngày này, dư luận quan tâm đặc biệt đến thông tin hàng nghìn sinh viên tại thành phố Hồ Chí Minh phải xếp hàng từ mờ sáng để đăng ký thi tiếng Anh tại một trung tâm. Tìm hiểu thì mới vỡ lẽ, những sinh viên này tranh thủ đi thi tiếng Anh lấy chứng chỉ trước khi đề thi trở nên khó khăn hơn.

Chuyện xảy ra cũng chỉ vì trung tâm IIG Việt Nam hiện là đại diện chính thức và duy nhất của Viện Khảo thí Giáo dục Hoa Kỳ (ETS) tại Việt Nam, Lào, Campuchia và Myanmar, được ủy quyền thực hiện bài thi quốc tế TOEIC. Do số cơ sở của IIG là rất ít, nên việc nhiều sinh viên cùng lúc đến đăng ký thi sẽ khiến “quá tải”…

Nếu không có chứng chỉ ngoại ngữ của IIG cấp, nhiều sinh viên sẽ không thể tốt nghiệp đại học. Tiêu chuẩn đánh trúng vào tâm lý của học sinh nên nhiều sinh viên lo lắng, sốt vó đi thi cho đủ chuẩn cũng là điều dễ hiểu.

Tư duy ngắn hạn!

Vấn đề được đặt ra là thi chứng chỉ đầu ra ngoại ngữ thôi sao mà phải ùn ứ xếp hàng một cách khổ sở như thế? Phải chăng, xếp hàng từ đêm khuya đã thở thành một biểu tượng của ngành giáo dục? Phụ huynh xếp hàng từ đêm khuya xin cho con, cháu vào mẫu giáo, lớp 1; sinh viên xếp hàng từ đêm khuya đăng ký thi ngoại ngữ,…

Nguyên văn một chia sẻ của nữ sinh với báo chí thế này: “Tôi luyện thi ở trung tâm đã hơn nửa năm nay, mục tiêu là TOEIC 450 đủ điểm ra trường. Giờ mà đề thay đổi, thi không giống những gì đã học thì coi như công cốc nên tranh thủ đăng ký thi sớm”. Hóa ra, với họ, học tiếng anh cũng chỉ để ra trường mà thôi. Cơ hội cuối cùng của những sinh viên ấy là làm sao có chứng chỉ tiếng Anh một cách dễ dàng nhất, bằng mọi giá phải có chứng chỉ để “ra trường”.

Ra trường vẫn là mục tiêu hàng đầu, số một của các sinh viên mà không cần quan tâm đến việc ra trường rồi mình có kiến thức thật sự ở mức nào. Bảo sao sinh viên ngày nay thất nghiệp nhiều đến như thế. Họ chỉ biết cách tìm mọi con đường dễ nhất để đạt được bằng cấp, chứng chỉ mà thôi.

Câu chuyện chẳng khác nào hơn 1.200 người được phong hàm giáo sư, phó giáo sư hồi đầu năm 2018 này cả. Quá nhiều hồ sơ đăng ký tiêu chuẩn giáo sư, phó giáo sư cũng chỉ vì sắp tới tiêu chuẩn phong giáo sư, phó giáo sư sẽ khó lên rất nhiều.

Rõ ràng, ngay từ khi còn là sinh viên, tư tưởng của số đông đã là chạy theo bằng cấp một cách bất chấp thì sau này làm cán bộ, công chức, chính những con người ấy cũng sẽ mãi chỉ biết chạy theo bằng cấp mà thôi. Một tư duy ngắn hạn đã trở thành thói quen của cả xã hội, một nền giáo dục chỉ hướng đến khoác lên cho mình những tiêu chuẩn do người khác đặt ra mà không cần biết mình ở đâu, làm gì, có những năng lực nào. Vốn dĩ, ngành giáo dục đang hướng xã hội đến việc trang bị những tiêu chí thụ động, đáp ứng yêu cầu của người khác, không giúp người ta chủ động đưa bản thân phát triển hơn.

Nói cho dễ hiểu, tư duy ngắn hạn ấy là tư duy của những người làm thuê, luôn phải chạy theo những tiêu chí mà người thuê lao động đặt ra. Chưa từng có ai nghĩ mình phải làm “ông chủ” bằng chính năng lực của mình mà không nhất thiết phải quan trọng hóa một tiêu chuẩn cố định nào.

Sau tất cả, càng chẳng ngạc nhiên về cái thực trạng Việt Nam đang trở thành công xưởng nhân công giá rẻ của thế giới. Tất cả cũng chỉ từ những hình thành sai lệch từ nền giáo dục mà ra.

Đến mơ ước tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai!

Trở lại với chuyện sinh viên xếp hàng thi chứng chỉ đầu ra tiếng Anh. Tiêu chí ấy được đặt ra tại các trường đại học vốn dĩ cũng là để thực tiễn hóa các chủ trương, chính sách của Nhà nước. Trong Diễn đàn thanh niên khởi nghiệp 2018 diễn ra gần đây, Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng đã đề nghị Thủ tướng cần sớm công nhận tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ 2 tại Việt Nam. Vấn đề này thực tế cũng đã được đề cập trước đó, khi Bộ Giáo dục và Đào tạo xây dựng Đề án 2020 về dạy và học ngoại ngữ.

Có lẽ, biến tiếng Anh trở thành “ngôn ngữ thứ hai’ của người Việt vẫn luôn là một “ước mơ” dang dở khó thực hiện. Nhìn từ chính thực trạng học, dạy, thi tiếng Anh ở các cấp học, nhìn từ việc sinh viên khổ sở thi tiếng Anh từ đêm khuya, nhìn vào đội ngũ cán bộ, công chức luôn “sợ hãi” trước mỗi kỳ học, thi bổ sung chứng chỉ tiếng Anh,… Tất cả đang vẽ ra bức tranh giáo dục thật ảm đạm.

Đành rằng, chuyên gia này, chuyên gia nọ nghiên cứu rồi kết luận tiếng Anh chưa thể phổ cập tại Việt Nam do chất lượng giáo viễn, do điều kiện, môi trường học tập,… Nhưng, mấy ai đã hiểu được, tất cả những lý do ấy chỉ xếp sau cái tư tưởng của cả một xã hội về học một thứ gì đó. Nâng cao chất lượng giáo dục ở đâu, đổi mới ở đâu, có lẽ phải bỏ được tư duy ngắn hạn của cả xã hội trước đã!