Thảm họa Polpot và câu chuyện nhược tiểu

Thứ Ba, 08.01.2019, 15:55

Những ngày này, người dân tại Campuchia, Việt Nam và một số nơi trên thế giới cùng tổ chức nhiều hoạt động tưởng niệm các nạn nhân của chế độ diệt chủng Polpot hơn 40 năm về trước – một thời khắc kinh hoàng và đẫm máu nhất trong lịch sử nhân loại.

Polpot đã tiến hành cải tạo xã hội mới bằng cách dạy cho cả trẻ con Campuchia giết người bằng những thứ vũ khí thô sơ và theo cách man rợ nhất.

Theo nhiều nhận định, nếu Quân đội Nhân dân Việt Nam không thực hiện chiến dịch biên giới Tây Nam (1978 – 1989), đập tan và truy quét bè lũ Polpot sang tận lãnh thổ Thái Lan thì người Miên (Khmer) ở Campuchia gần như sẽ bị thảm sát hết. Vì thế, việc một số sử gia (cả từ Phnompenh lẫn Hà Nội) gọi quân tình nguyện Việt Nam bằng cái tên “bộ đội nhà Phật” không phải là không có cơ sở.

Mặc dù vậy, cũng cần phải nói rằng, tình hình thời cuộc lúc bấy giờ đã không cho Việt Nam được phép có lựa chọn. Từ cuối năm 1975, sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc, được Trung Quốc xúi giục, Polpot đã liên tục quấy phá và thảm sát dân thường Việt Nam tại các tỉnh biên giới; Thậm chí, theo âm mưu, sau khi giết hết người Khmer, Polpot sẽ để TQ đưa quân qua và đánh úp VN từ hai ngả: biên giới phía Bắc và phía Tây, tình thế trở nên hung hiểm vô cùng. Vì thế, chúng ta buộc phải đánh Polpot là để cứu chính mình chứ không hẳn trước tiên là vì tình hữu nghị hai nước.

Tuy nhiên, quyết định này cũng đã khiến Việt Nam phải trả một cái giá rất đắt khi sa lầy gần 10 năm tại Campuchia, bên cạnh giao tranh với TQ ở phía Bắc, dẫn đến kinh tế kiệt quệ và bị các láng giềng trong khu vực Đông Nam Á (Thái Lan, Malaysia …) bỏ xa. Còn ngày nay, sau hơn 40 năm, Campuchia lại đang có dấu hiệu nổi lên như một mối đe dọa tiềm ẩn của Việt Nam bởi sự chọc ngoáy của Trung Quốc (kích động bài Việt bằng chiêu bài đòi đất), khiến cả tính chính danh lẫn ý nghĩa của cuộc chiến tiêu tốn rất nhiều xương máu đều bị hoài nghi.

Mục đích của bài viết này không phải là để phân tích hay phán xét đúng sai, bởi lịch sử không hề có chữ “nếu”. Ở đây, người viết chỉ muốn đi vào khảo cứu một chủ đề khác, về thân phận của những quốc gia nhược tiểu – vốn không thể tự quyết định được số phận, dễ dàng lệ thuộc, bị cuốn vào cuộc tranh chấp giữa các đại cường, dẫn tới bi kịch là tất yếu, trong đó Campuchia chính là một ví dụ điển hình.

Từ thời cổ, cả Vương quốc Phù Nam (tồn tại từ năm 68 – 550) rồi Chân Lạp (550 – 802) và sau này là Angkor (802 – 1431), tiền thân của Campuchia, đều đã từng là những đế chế rộng lớn (diện tích lên tới hàng triệu km2) hùng mạnh, phát triển thịnh trị và có nền văn minh rực rỡ vào loại nhất khu vực, nhưng sau đó đều lụi tàn, tiêu vong (vương triều sụp đổ do nội chiến hoặc đánh nhau với bên ngoài, dẫn tới lãnh thổ bị thôn tính, sáp nhập, …). Trong giai đoạn thế kỷ 17 – 19, Thủy Chân Lạp suy yếu trầm trọng và luôn phải tìm cách sinh tồn khi đồng thời chấp nhận ảnh hưởng của cả hai láng giềng tham vọng, hùng mạnh là Xiêm (Thái Lan) và Đàng Trong (Việt Nam). Sang đến thế kỷ 20, tình hình cũng chả mấy khá khẩm, khi hầu hết những toan tính và nỗ lực của ông hoàng Norodom Sihanuk (một người tài hoa và có lối sống phong lưu) nhằm duy trì nền độc lập, giảm thiểu thiệt hại trong thời loạn và ước mộng đòi đất (vùng đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam) … đều thất bại. Thậm chí, trong giai đoạn lưu vong ở Bắc Kinh sau cuộc đảo chính Lol Nol (1972 – 1976), ông này còn tuyên bố về phe Polpot (dù trước đó đã từng truy đuổi y) để rồi Polpot lên nắm quyền và thực hiện chính sách diệt chủng với chính thần dân của ông. Năm 2012, tờ New York Times có đăng một bài viết về Sihanuk sau cái chết của ông như là sự phản chiếu chính xác nhất về lịch sử đầy biến động của Campuchia trong thế kỷ 20.

Câu chuyện Campuchia cho thấy, có mấy nguyên nhân chính dẫn đến vị thế nhược tiểu của một quốc gia như sau:

Thứ nhất, đó là do sự thiếu vắng của một nền tảng học thuyết và tư tưởng mạnh để phục vụ mục tiêu dựng nước, giữ nước và trị nước. Cả Phù Nam, Chân Lạp, Angkor đều bị thôn tính, sụp đổ vì đã không biết đề cao chủ thuyết “mở rộng không gian sinh tồn”. Chăm Pa cũng rơi vào cảnh tương tự, mặc dù Chế Bồng Nga thậm chí đã từng 7 lần tấn công ra tận Thăng Long, nhưng chỉ cho cướp bóc, đốt phá rồi quay về. Trong khi đó, nhờ tầm nhìn vượt thời đại của mình, cụ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm lại khuyên Chúa Trịnh không nên lật đổ vua Lê để duy trì sự ổn định; phán Mạc Đăng Dung lên Cao Bằng nhưng chỉ làm được 2 đời (quyết định không cầu viện Trung Hoa); còn Chúa Tiên Nguyễn Hoàng thì nhận lãnh sứ mệnh Nam tiến và mở ra tiền đồ sáng sủa cho cả dân tộc … Vì thế, mặc dù không có những công trình kiến trúc, đền đài, lăng tẩm nguy nga, tráng lệ với đường nét trạm trổ tinh vi, hay các điệu múa tinh tế … song Đại Việt đã liên tục mở rộng được không gian sinh tồn (lãnh thổ rộng ra gấp 3), vươn lên hùng mạnh và đứng vững trước sức ép nghìn năm của Trung Hoa.

Các dân tộc như Campuchia, Thái Lan, Miễn Điện và Lào chịu nhiều ảnh hưởng của Phật giáo Tiểu thừa, du nhập từ Ấn Độ.

Thứ hai, theo kiến giải của Tùng Phong Ngô Đình Nhu (cố vấn, em trai Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Ngô Đình Diệm) trong cuốn Chính đề Việt Nam, thì mục tiêu tối hậu đối với bất kỳ quốc gia nào không phải chỉ có độc lập hay thống nhất, mà quan trọng hơn phải là “phát triển dân tộc” – sứ mệnh mà phần lớn các quốc gia tiêu vong thường xa rời. Tại các dân tộc Á Đông, trở lực phần lớn tới từ sức nặng của yếu tố tâm linh, tôn giáo hay tín ngưỡng. Cụ thể, ông Nhu chia giáo lý ra làm 2 loại: loại thứ nhất chủ trương công nhận đời sống trên thế gian này là sự thật và tìm cách giải quyết các vấn đề của nhân loại ngay trong cõi đời; loại thứ hai hướng tới phủ nhận đời sống ở thế gian, không tìm cách giải quyết các vấn đề của nhân loại trong cõi đời và chỉ chú trọng cuộc sống ở thế giới bên kia (tức khái niệm thoát tục hay nhập niết bàn). Theo cách hiểu này, tôn giáo của phương Tây (Thiên Chúa, Tin lành, Do Thái Giáo …) được xếp thuộc loại thứ nhất, trong khi Phật giáo, Lão giáo và Ấn Độ giáo (các tôn giáo phương Đông) thì thuộc loại thứ hai. Hầu hết các quốc gia Đông Nam Á như Campuchia, Lào, Thái Lan, Miễn Điện … đều chịu nhiều ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ, trong đó có Phật giáo tiểu thừa – thường dạy tín đồ không chú trọng đời sống hiện tại, chỉ tìm cách vừa đủ để nuôi sống và chờ đợi ngày sang thế giới bên kia … dẫn tới xu hướng trốn tránh, từ chối cuộc sinh tồn, và không sẵn sàng đương đầu với các khó khăn khổ não của cuộc đời – tức không muốn và cũng không dám sống mạnh (để so sánh, các quốc gia Đông Á như Nhật Bản, Trung Quốc, Triều Tiên và Bắc Việt Nam chịu nhiều ảnh hưởng của Phật giáo Đại thừa, cho nên ý thức sinh tồn có phần mạnh mẽ hơn). Do đó, ông Nhu mạnh dạn đề nghị, dân tộc Việt Nam muốn phát triển thì không thể không Tây phương hóa triệt để, bằng cách hội nhập và tiếp thu tri thức khoa học kỹ thuật cùng các tư tưởng tiến bộ của phương Tây, bao gồm cả việc cho tự do giao lưu và truyền đạo.

Thứ ba, kinh nghiệm của Campuchia cho thấy, một đất nước không bao giờ có thể trở thành cường quốc nếu lãnh đạo của nó cứ khư khư giữ mãi lập trường nước đôi hoặc chính sách ngoại giao ba phải – tưởng khôn ngoan song thật ra lại là dại dột. Như ông hoàng Sihanuk, dẫu đã bôn ba và toan tính cả đời, hết cầu cạnh người Pháp, kêu gọi Mỹ rồi lại quay sang thần phục Bắc Kinh, … nhưng đất nước của ông cũng không thể tránh khỏi kiếp nạn tan nát, mà một phần lỗi lớn là do ông. Thời nay cũng vậy, chủ trương đối ngoại đu dây mà Campuchia đang áp dụng với cả Trung Quốc lẫn Việt Nam chắc chắn đều không thể khiến các đối tác cảm thấy an tâm.

Chính sách ngoại giao hiện nay của Campuchia cũng là theo kiểu đu dây, khi luôn tìm cách cân bằng giữa Trung Quốc và Việt Nam.

Sau cùng, trông người cũng là để ngẫm đến ta, phải chăng đã tới lúc Việt Nam cần nghiêm túc xem lại chính bản thân mình, từ kinh nghiệm của tiền nhân và bài học từ những quốc gia láng giềng để trả lời thật rõ câu hỏi: chúng ta muốn trở thành một cường quốc hùng mạnh để được cả thế giới kính nể hay sẽ cam chịu thân phận nhược tiểu?