Phụ nữ và giáo dục Việt Nam thời phong kiến

Thứ Tư, 05.12.2018, 14:40

Đặt vấn đề: Chế độ phong kiến Việt Nam gắn liền với quan niệm “trọng nam khinh nữ” và do đó, khi nói về kinh tế, chính trị, giáo dục… thời phong kiến, người ta cũng liên tưởng ngay đến những thiệt thòi của người phụ nữ trong các lĩnh vực đó. Vì thế, nhiều bài viết đã ra đời với tinh thần cảm thông, bênh vực người phụ nữ, khẳng định phẩm chất và tài năng của họ. Tuy nhiên, ngoài những hạn chế đó, phụ nữ Việt Nam thời phong kiến lẽ nào thực sự không có vị trí, sự ưu ái gì, cụ thể là trong giáo dục?

 

 

Từ đây có thể thấy, đi tìm mối liên hệ giữa phụ nữ và giáo dục Việt Nam thời phong kiến là để thấy rằng phụ nữ Việt Nam đã chịu nhiều thiệt thòi nhưng cũng có những trường hợp ngoại lệ. Và họ đã có những phản ứng gì đối với những thiệt thòi của mình? Có sự khác nhau nào trong phản ứng giữa phụ nữ bình dân và phụ nữ trí thức?…

Thêm vào đó, chúng ta cũng muốn biết rằng các nhà Nho thời trung đại đã nghĩ gì về phụ nữ, cụ thể là về tài học của phụ nữ và tài học đó đã biểu hiện như thế nào (dù nữ giới không được đến trường một cách chính thức như nam giới). Bài viết này xin được bước đầu tìm hiểu các vấn đề trên.

Tiếp cận vấn đề

Xã hội Việt Nam thời phong kiến đã hạn chế, ràng buộc người phụ nữ về nhiều mặt. Đã từng có một thời gian dài người phụ nữ không được phép đến trường và tất nhiên không được tham gia thi cử. Nếu nữ nhân cải nam trang đi học, đi thi và bị phát hiện thì sẽ bị tội rất nặng (tội khi quân). Câu chuyện về một người con gái giả trai đi học trong câu chuyện cổ Sự tích quả roi lại xác nhận một lần nữa vấn đề này qua góc nhìn của nhân dân. Trong truyện, người học trò nữ bị thầy đồ phát hiện là nữ (vì con ốc roi đeo trên cổ có màu hồng trong khi ốc roi của người con trai là màu trắng) đã giải trình như sau: “Thưa thầy, chỉ vì phép vua không cho phép con gái đi học đi thi nên con đành phải làm vậy…” [2]. Trước tình hình đó, thầy đồ chỉ có thể chấp nhận và bảo học trò phải cảnh giác vì “Nếu việc này mà bị lộ thì con sẽ phải tội chém đầu, thầy cũng chẳng sống yên!” [2]

Tuy nhiên, vẫn có những trường hợp ngoại lệ mà tiêu biểu là Nguyễn Thị Duệ (1573 – 1654). Vì đức hiếu học, bà cải nam trang đi thi và đã đỗ đầu kỳ thi Hội vào năm 1594 (với tên giả là Nguyễn Du) vào đời nhà Mạc (ở Cao Bằng). Tuy nhiên, vua Mạc Kính Cung đã phát hiện được bà là nữ bởi vẻ mảnh mai, thanh tú. Thế nhưng, vua không khép tội mà ngược lại còn khen ngợi tinh thần của bà. Sau đó, Nguyễn Thị Duệ còn được mời vào cung để dạy học cho các phi tần. Đến khi Lê – Trịnh tiêu diệt nhà Mạc, chúa Trịnh vẫn cho bà trông coi việc dạy học. Điều này đã cho thấy ở một số trường hợp cá biệt, phụ nữ vẫn được tham gia vào giáo dục bằng uy tín và học thức của họ. Các trường hợp như Nguyễn Thị Lộ – nữ nhà giáo đầu tiên dạy học trong cung đình, được Lê Thái Tông phong làm Lễ nghi học sĩ hay Nguyễn Thị Hinh – nữ nhà giáo nổi tiếng đất Thăng Long, được vua phong là Cung trung giáo tập đã cho thấy rằng, không phải lúc nào quy định giáo dục thời phong kiến cũng luôn khắt khe với những người phụ nữ!

Đối với việc bị phân biệt đối xử trong giáo dục đại học thời phong kiến, phụ nữ Việt Nam cũng đã có những phản ứng. Đây là điều tất yếu. Xu hướng phản ứng thứ nhất là chấp nhận. Điều này có thể thấy rõ qua ngàn năm phụ nữ Việt Nam mang vẻ đẹp chấp thuận hy sinh, đóng góp ở tinh thần nuôi chồng đi thi: “Sáng trăng trải chiếu hai hàng – Bên anh đọc sách bên nàng quay tơ”.

Thế nhưng, tín ngưỡng Việt Nam với đạo thờ Mẫu đã nâng cao ý thức khẳng định phái nữ. Thêm vào đó, trước sự bất công khi bị phân biệt đối xử trong giáo dục (như câu ca dao:

“Ai về chợ huyện Thanh Vân

Hỏi thăm cô Tú đánh vần được chưa?

Đánh vần năm ngoái năm xưa

Năm nay quên hết cũng như chưa đánh vần”

thì phụ nữ Việt Nam thời phong kiến cũng đã thể hiện tinh thần phản đối bằng nhiều cách. Đối với những người phụ nữ bình dân, họ bày tỏ thái độ chống đối của mình qua lời ăn tiếng nói hàng ngày (văn học dân gian) bằng cách khẳng định tài học của mình không thua kém nam giới: “Gái thì kể phú ngâm thơ – Trai thì be bờ kể chuyện bài bây” (Ca dao) hay nhắc nhở chị em trau dồi học tập:

“Nhỏ còn thơ dại biết chi

Lớn rồi đi học, học thì phải siêng Theo đời cũng thể bút nghiên

Thua em kém chị cũng nên hổ mình.”
(Ca dao).

Những người phụ nữ trí thức thì phản ứng trước sự phân biệt đối xử trong giáo dục bằng cách chống đối (cải nam trang đi học, đi thi, tự học hoặc mướn thầy đồ về dạy – đối với phụ nữ sinh ra trong gia đình khá giả). Họ còn mạnh dạn khẳng định tài học của mình mà ấn tượng nhất là Hồ Xuân Hương:

“Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ
Lại đây cho chị dạy làm thơ”
(Lỡm học trò)

Mặt khác, nữ giới thời phong kiến đã được nam giới nhìn nhận như thế nào khi trong chính trị và giáo dục, phụ nữ hầu như bị xem thường và phân biệt đối xử? Từ góc nhìn văn học, ta thấy rằng các nhà Nho trung đaị, nhất là các nhà Nho hậu kỳ trung đại (đã làm quan) rất trân trọng tài học, tài thơ của người phụ nữ, khẳng định họ không thua kém nam giới. Lê Quý Đôn trong Mấy lời về thể lệ sách Toàn Việt thi lục thấy rằng:

“Phấn hương đề vịnh tuy không phải là việc thích hợp với phòng khuê, song ba trăm bài Kinh thi, cũng có nhiều bài của con gái… Nữ học sĩ Kim Hoa triều trước được chép vào truyện Truyền kỳ thật là bậc tài hoa một thời nhưng thơ của bà đều mất cả.”. [1; tr.88].

Hay như Nguyễn Hàm Ninh trong Bài bạt tập thơ Diệu Liên, Trương Đăng Quế trong Tựa tập thơ Mai Am đều dành rất nhiều lời khen tặng cho các nữ thi nhân.

Cuối cùng, phụ nữ Việt Nam thời phong kiến đã chứng tỏ thực tài và năng lực, học thức của mình như thế nào?

Rõ ràng, mặc dù không được ưu ái trong giáo dục nhưng nhiều người phụ nữ Việt Nam thời phong kiến đã nhận thấy tầm quan trọng của việc học nên họ tự học ở nhà (do người cha dạy hoặc mướn thầy đồ về dạy). Họ tham gia giao lưu văn chương như Bà Huyện Thanh Quan như trường hợp Hồ Xuân Hương với Nguyễn Du. Họ đã dùng thơ văn để khẳng định mình như Sương Nguyệt Anh họa thơ trả lời những người muốn tỏ tình với bà (như Phủ Ngọc, Bảy Nguyện). Và có thể thấy, với năng lực của mình, người phụ nữ Việt Nam thời phong kiến đã tự khẳng định vị trí của họ. Ngày nay, chúng ta vẫn nhắc đến những nữ thi nhân tài danh như Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan, Đoàn Thị Điểm và nhắc đến Sương Nguyệt Anh, chúng ta cũng rất tự hào vì bà là nữ chủ bút đầu tiên của báo chí Việt Nam, phụ trách tờ Nữ giới chung – tờ báo phụ nữ đầu tiên tại Sài Gòn.

KẾT LUẬN

Như vậy, trong giáo dục thời phong kiến, phụ nữ Việt Nam chịu nhiều thiệt thòi từ sự phân biệt đối xử và những định kiến. Tuy nhiên, những người phụ nữ ý thức về vai trò, tài năng của mình, có tinh thần chống lại những bất công đã có những sự phản ứng nhất định. Những nhà Nho cũng trân trọng tài học, tài thơ của họ và hơn hết, họ đã để lại nhiều đóng góp minh chứng cho vị trí của mình.