Không phân biệt bằng đại học chính quy, tại chức: Đầy rẫy nỗi lo!

Thứ Sáu, 23.11.2018, 14:55

Mới đây, Luật Giáo dục đại học (sửa đổi) gồm 69 điều đã được Quốc hội chính thức thông qua với 84,12% tổng số đại biểu Quốc hội tán thành và sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2019. Trong đó, quy định không phân biệt giá trị văn bằng đại học chính quy và tại chức trong Luật này đang gây ra rất nhiều tranh luận trái chiều.

Đào tạo tại chức đầy rẫy tiêu cực, làm sao cho bằng đại học chính quy?

Luật Giáo dục đại học quy định không phân biệt về giá trị văn bằng do có các hình thức đào tạo khác nhau. Tức, văn bằng hệ đào tạo đại học chính quy so với các hệ đào tạo tại chức, văn bằng 2, liên thông, từ xa… có giá trị như nhau. Về mặt định hướng, quy định này được xem là một trong những thay đổi căn bản để hiện thực hóa mục tiêu xóa bỏ “xã hội trọng bằng cấp” tại Việt Nam. Tuy nhiên, đã là những thay đổi ở mức căn bản thì sẽ luôn tạo ra nhiều nghi ngại, hoài nghi.

Một thứ mừng, nhiều nỗi lo!

Như đã nói, quy định không phân biệt giá trị văn bằng từ các loại hình đào tạo khác nhau sẽ giúp dần xóa bỏ “xã hội trọng bằng cấp” – thói quen được hình đã rất lâu tại Việt Nam. Cụ thể, quy định này sẽ tạo điều kiện cho tất cả sinh viên tốt nghiệp có cơ hội ngang nhau trong việc công nhận văn bằng, tuyển dụng lao động. Đây là điều mà lâu nay chúng ta chỉ có thể thấy ở các nước ngoài.

Tuy nhiên, đây dường như lại chỉ là điểm lợi ích duy nhất. Xung quanh nó, muôn vàn điểm bất cập vẫn đang hiện hữu!

Theo phát biểu của chính một vị đại biểu Quốc hội, bà Bùi Thị Quỳnh Thơ (đoàn Hà Tĩnh), thì ở Việt Nam hiện nay, việc đào tạo ĐH chính quy và các hệ đào tạo khác chưa có sự đồng nhất về chất lượng cho dù là giảng dạy cùng 1 chương trình, cùng giảng viên… Cùng đó, chất lượng tuyển sinh đầu vào cũng thể hiện sự chênh lệch không thể xóa bỏ.

Rõ ràng, phát biểu của đại biểu Thơ là vô cùng chính xác. Từ xưa, xã hội đã luôn tồn tại câu truyền miệng: “dốt như chuyên tu, ngu như tại chức” để đánh giá về hệ đào tạo đại học “không chính quy”. Thực tế, những người tham hệ đào tạo này vốn dĩ chỉ đi học khi “công việc của họ yêu cầu bằng cấp để tăng lương, bổ nhiệm,…” mà thôi. Từ đây, lo ngại được đặt ra là việc quy định không phân biệt giá trị văn bằng các hình thức đào tạo khác nhau có tạo ra lỗ hổng trong công tác tuyển chọn nguồn nhân lực, đặc biệt là các cơ quan hành chính nhà nước? Thử nghĩ xem, nếu một người năng lực kém, chỉ được đi học trung cấp vào làm nhà nước một thời gian rồi xin suất đi học tại chức, liên thông. Sau đó, họ quay trở lại với tấm bằng đại học để được bổ nhiệm lên những chức vụ cao hơn.

Nói thẳng, nếu trường hợp cụ thể là một nhân vật “5 c, 4 ệ”, thì việc họ vào nhà nước theo con đường nói trên lại càng dễ, con đường họ thăng quan tiến chức lại càng “đúng quy trình” hơn. Vì những con người ấy có tiền, có quyền,… dù rằng họ vẫn ở diện năng lực chưa thấy đâu.

Hay rồi, lại nghĩ đến những sinh viên học hệ đào tạo chính quy 4, 5, 6 năm xem họ sẽ bị ảnh hưởng những gì. Thời gian học dài hơn, quy trình tuyển sinh khó nhằn hơn với sự cạnh tranh khốc liệt. Để rồi, sau quá trình đào tạo, họ chỉ có tấm bằng đại học chính quy. Trong khi đó, những người khác học trung cấp, cao đẳng đi học 2, 3 năm rồi ra đi làm, rồi đi học liên thông, tại chức với thời gian buổi tối trong khoảng 1, 2 năm cũng có tấm bằng đại học.

Nếu không phân biệt bằng đại học giữa hai đối tượng này, thì điều gì sẽ xảy ra? Trong một cơ quan nhà nước, khi cân nhắc giữa một sinh viên tốt nghiệp đại học chính quy và một người học tại chức, liên thông ra. Thì dù họ cùng tấm bằng đại học, nhưng những người học tại chức, liên thông lại hơn ở chỗ, họ có cái gọi là “kinh nghiệm công tác thực tế”. Hiển nhiên, những người học đại học chính quy đã thua thật rồi.

Vậy đấy, phải chăng chúng ta nên từ bỏ nỗi khổ để thi đại học chính quy, hãy cứ học trung cấp, cao đẳng thôi rồi sau này liên thông, tại chức,… vẫn có thừa sức cạnh tranh với những người giỏi hơn học đại học ra.

Mấu chốt là đào tạo!

Nếu Việt Nam có một nền giáo dục phát triển hàng đầu như các quốc gia châu Âu, châu Mỹ, thì có lẽ sẽ chẳng ai phải đặt ra những điều lo ngại nhắc ở trên. Chỉ tiếc rằng, hiện thực nhiều năm đã qua đều chỉ dẫn dư luận suy nghĩ đến những hệ quả tiêu cực mà thôi!

Chung quy, vấn đề nằm ở môi trường giáo dục. Thẳng thắn thừa nhận, nền giáo dục tại Việt Nam vẫn còn đang ở mức thấp. Hãy nhìn xem, cùng mang danh là đào tạo hệ đại học nhưng hệ đại học chính quy và hệ đại học “không chính quy” khác biệt quá nhiều. Từ chất lượng đầu vào của học viên, đến thời gian đào tạo, môi trường đào tạo, tiêu chuẩn xét duyệt. Và cũng đừng quên, càng hệ đào tạo cho người có việc làm thì càng có nhiều những “tiêu cực mang tính vật chất”.

Mấy hôm trước, người ta “phanh phui” ra câu chuyện tổ chức lớp học “chống trượt ngoại ngữ” tại đại học công nghiệp Hà Nội. Nhưng nếu để ý, thì xã hội còn đầy những lớp học hộ, lớp thi hộ chống trượt khác tồn tại ngoài kia. Trong đó, càng những người có nhiều tiền thì càng dễ gây ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục. Tiện đây, có ai lên mạng để tìm kiếm về tiêu cực trong đào tạo tại chức thì rồi sẽ cả triệu kết quả trả về trong thời gian chưa đến một giây. Thực tế ấy chối cãi đến đâu cũng không làm sao cho hết?

Niềm tin cho giáo dục, đào tại tại Việt Nam đang ở mức nào? Câu trả lời là rất thấp. Sau tất cả, khi vẫn chưa thể có một hệ thống giáo dục tạo niềm tin, thì đào tạo đại học ở những hình thức khác nhau vẫn không thể cho ra được những nhân lực chất lượng tương đương. Vậy thì, có quy định không phân biệt bằng cấp, cũng chỉ là một sai lầm sớm thấy rõ hậu quả.

Bao giờ giáo dục mang lại cho xã hội niềm tin, bao giờ giáo dục cùng một cấp bậc phải chắc chắn cho ra được đầu ra tương đương với mọi hình thức đào tạo, có lẽ, khi ấy chúng ta mới nên thay đổi…