Khai thác bể than Sông Hồng: Đừng “gặm nhấm” vào tương lai con em chúng ta!

Thứ Hai, 10.12.2018, 15:28

Trong bối cảnh khai thác tài nguyên khoáng sản của chúng ta đang có vấn đề như: Chỉ việc đào lên để bán mà vẫn lỗ và hệ lụy cho môi trường, xã hội ngày một tăng cao..v..v. Nên tại Hội thảo “Đánh giá tiềm năng khai thác và sử dụng bể than đồng bằng sông Hồng” do Liên hiệp các hội Khoa học kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức vừa qua đã nhận được nhiều ý kiến đóng góp rất tâm huyết từ các chuyên gia, nhà khoa học.

Nhiều ý kiến phản đối việc mở bể than Sông Hồng

Thận trọng là đúng!

Những vấn đề quan trọng xung quanh bể than Sông Hồng, đó là: Bể than có trữ lượng bao nhiêu? Có nên đánh giá toàn bộ trữ lượng mỏ than, hay trên cơ sở hiện tại đánh giá theo từng vùng, từ đó đề xuất thời gian tới khai thác thế nào? Nếu khai thác thì sử dụng công nghệ nào là hợp lý? Các vấn đề tác động đến môi trường (môi trường nước ngầm, nước mặt và các môi trường khác…), xã hội, an ninh như thế nào khi khai thác mỏ than…ra sao?

Theo đó, bể than Sông Hồng có điều kiện địa chất hết sức phức tạp cho việc khai thác, lại nằm trong vùng nhạy cảm về môi trường, xã hội và có nhiều tài nguyên nhiên, văn hóa, nhất là tài nguyên nước và đất nông nghiệp. Vì thế, việc khai thác khó khăn được các chuyên gia phân tích ở nhiều khía cạnh. xét về điều kiện địa chất – mỏ, địa chất công trình, địa chất thủy văn, kiến tạo, địa chấn của bể than rất phức tạp, nguy cơ xảy ra các rủi ro khi khai thác than ở dưới sâu.

Về phương pháp khai thác: Người ta đưa ra hai phương án để lựa chọn đó là khai thác hầm lò và bằng công nghệ UCG (khí hóa than ngầm). Có điều, phương pháp nào cũng không ổn.

Nếu như sử dụng bằng khai thác hầm lò truyền thống có tác động tiêu cực rất lớn như: Tạo ra sự mất nước ngầm diện rộng đối với hai tầng nước ngầm (tầng chứa nước Holocene – QH và tầng chứa nước Pleistocene – QP đang là nguồn cung cấp nước sinh hoạt và công nghiệp cho ĐBSH. Rồi, việc mất đất canh tác, nguy cơ sạt lở và lún đất cũng rất lớn.

Thì phương pháp khai thác bằng công nghệ UCG cũng có thể làm giảm nguy cơ mất nước diện rộng so với khai thác bằng phương pháp hầm lò, nhưng có thể tạo ra thêm sự ô nhiễm nguồn nước ngầm của hai tầng chứa nước QH và QP và lún đất lâu dài đối với toàn bộ phạm vi các vỉa than khai thác.

Mặt khác, việc xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật còn làm gia tăng việc mất đất, ô nhiễm không khí. Kinh nghiệm ở các vùng khai thác than bằng phương pháp UCG cho thấy, tốc độ lún đất hàng năm ở các bãi khai thác than ngầm có thể lên vài chục cm; có khi tới 1-2 mét sau hàng chục năm.

Về yếu tố địa chất, địa mạo: Đang có nhiều vấn đề phải cân nhắc thận trọng. Đó là, vùng Đồng bằng Sông Hồng có các đứt gãy kiến tạo cỡ khu vực chạy qua và đa số các đứt gãy đang hoạt động, đứt gãy sinh chấn, gồm đứt gãy Sông Hồng, Sông Chảy, Sông Lô, Vĩnh Ninh. Các đứt gãy đang hoạt động rất nguy hiểm vì chúng có thể gây ra động đất, trượt đất, nứt đất… ảnh hưởng tới độ vững bền của đất đá, tác động tới các công trình xây dựng, gây hư hại tới độ vững bền của đất đá, tác động tới các công trình hạ tầng cơ sở, các công trình ngầm, tạo ra khe nứt cho nước ngầm ngấm vào các công trình ngầm.

Về xã hội – dân sinh: Khai thác than sẽ tác động trực tiếp đến hoạt động kinh tế-xã hội, phong tục tập quán, đời sống và văn hóa của cư dân, người dân mất đất canh tác, phải thay đổi sinh kế, di dân… thậm chí có thể biến cả đồng bằng Sông Hồng trở về với thời kỳ nguyên thủy. Nói cách khác, việc khai thác than ở ven biển, đồng nghĩa với những hoạt động khai thác mỏ, nên sự xâm nhập của nước biển sẽ vào sâu đất liền tới hàng trăm cây số. Cả hai tầng chứa nước ngọt chính là QH, QP đều bị nhiễm mặn hoàn toàn. Vùng đồng bằng sẽ trở thành một vùng chết, bởi nước mặn sẽ theo các ống mao dẫn trong đất nổi lên bề mặt.

Đó là chưa kể những rủi ro khác như bão tạo ra những con sóng lớn mà đỉnh sóng cao tới chục mét, hoặc gặp sóng thần ngoài khơi thì những vỉa than đã được lấy đi, sẽ là đường truyền sóng ngầm vào đất liền, gây ra sự sụp đổ bề mặt đất liền một cách bất ngờ không thể dự báo được..v..v.

Thành công của việc khai thác bể than Sông Hồng làm gia tăng mức độ sử dụng nhiên liệu hóa thạch phục vụ phát triển kinh tế. Đồng thời gây ra các tác động mạnh mẽ tới các chính sách phát triển của Việt Nam như: Chiến lược ứng phó với biến đổi khí hậu; Chiến lược phát triển bền vững, Chiến lược bảo vệ môi trường.

Vì thế, “Cần phải đánh giá đầy đủ các khía cạnh tác động môi trường, kinh tế, xã hội cũng như lợi ích của việc khai thác và sử dụng bể than Sông Hồng khi có phương án công nghệ và quy hoạch khai thác cụ thể, đặc biệt là phân tích xu hướng toàn cầu trong việc ứng phó với biến đổi khí hậu và định hướng phát triển bền vững đất nước” – PGS.TS Lưu Đức Hải (Hội Kinh tế môi trường Việt Nam) nói.

Như vậy, việc khai thác có nguy cơ gây sụt lún, ngập mặn toàn bộ đồng bằng Sông Hồng, mất đứt vựa lúa, đất canh tác của cả chục triêụ dân… là cái giá quá đắt sẽ phải trả, nên cần phải thận trọng là đúng!

Bài học từ Bô-xít Tây Nguyên

Nói đến dự án Bô-xít Tây Nguyên, kể từ ngày đề xuất, lập dự án, đến khi vận hành cho đến thời điểm bây giờ vẫn để lại cho dư luận lẫn giới chuyên gia nhiều bức xúc vì những hệ lụy kinh tế-xã hội, quốc phòng-an ninh của nó.

Những bài học liên quan đến dự án Bô-xít Tây Nguyên vẫn còn đó

Tại dự án Tân Rai, tổng mức đầu tư cho dự án này là 7.787,5 tỷ đồng (khoảng 493,5 triệu USD), với công suất 600.000 tấn/năm, thời gian thực hiện từ 2006 – 2009. Tuy vậy, qua 4 lần điều chỉnh, tổng mức đầu tư cho dự án đã tăng vọt lên đến 15.414,4 tỷ đồng (hơn 800 triệu USD). Thời gian thực hiện dự án bị chậm 4 năm so với quyết định phê duyệt lần đầu. Sau 3 năm đi vào hoạt động, tính từ tháng 10/2013 đến hết tháng 9/2016, đã lỗ 3.696 tỷ đồng. Còn dự án Nhân Cơ, theo quyết định đầu tư ban đầu (năm 2007), vốn đầu tư cho dự án này chỉ 3.285 tỷ đồng. Đến năm 2014, tổng vốn đầu tư đã tăng lên đến 16.821 tỷ đồng..v..v.

Trong quá trình sản xuất, dự án vẫn còn gặp một số lỗi về kỹ thuật do chất lượng của công trình, công nghệ và để xảy ra sự cố 3 lần nhưng được khắc phục kịp thời, không gây ô nhiễm môi trường. Đáng lo ngại ở chỗ, chính Bộ Tài nguyên và Môi trường đã đưa ra cảnh báo: “Trong tương lai, dự án này vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ về ô nhiễm và sự cố môi trường có thể xảy ra”.

Chỉ một dự án thôi, mà theo chỉ đạo của Thủ tướng, có đến 11 Bộ, 2 địa phương và 2 Tập đoàn, Tổng công ty phải báo cáo Chính phủ về hiệu quả của dự án Bô-xít Tân Rai và Nhân Cơ tại Tây nguyên thì đủ thấy độ “nóng” và nhạy cảm như thế nào rồi.

Bên cạnh đó, chuyện Vinacomin khai thác than, mỗi năm hàng trăm triệu tấn than bị múc lên đi bán, hãy thử nhìn mỗi năm đóng thuế cho ngân sách được bao nhiêu. Thế mà, một dự án khai thác tài nguyên nào cũng xin giảm thuế tới mức tối đa để có lãi? Xét trên khía cạnh kinh tế, xin hỏi một điều: Làm dự án mà không được lợi, thế thì làm làm gì?

Từ dự án Bô-xít Tây Nguyên cho đến nhiều dự án thua lỗ đình đám khác của ngành công thương phần nào cho thấy, suy nghĩ của một bộ phận các nhà tư vấn, lãnh đạo chuyên ngành mới chỉ mang tính chất ngắn hạn chứ chưa phải là một quá trình. Chẳng lẽ, “họ” là công ty Nhà nước nên “họ” có làm, có lỗ cũng chẳng sao?!

“Cơm không ăn thì gạo còn đó”!

Khai thác bể than Sông Hồng là gặm nhấm vào tương lai con em chúng ta

Nhiều nước có trữ lượng dầu mỏ khổng lồ đang lo ế vì đã bắt đầu thời đại năng lượng sạch (từ gió, ánh mặt trời, sóng biển), mà ta thì lại nói đến chuyện đào cả đồng bằng Sông Hồng đến độ sâu hàng nghìn mét để lấy than. Hãy xem được gì, mất gì, có đáng để mất không rồi hãy làm.

Xin các “thiên tài” hãy để cho dân vùng đồng bằng Sông Hông được sống bình yên. “Là một cán bộ về hưu tôi xin hỏi thẳng là từ trước tới nay Tập đòan TKV, Dầu khí… làm ăn lỗ hay lãi và Nhà nước và nhân dân được gì? Nên nhớ rằng, tòan bộ đồng bằng Sông Hồng là do tích tụ phù sa bồi lên. Nếu các vị muốn đưa “cảng biển nước sâu” đến tận Hà Nội thì cứ việc mà đào bới. Nước biển sẽ xâm nhập tới tận Ba Vì như thuở hồng hoang cho mà xem. Đừng mắc bệnh hoang tưởng, mê muội cho dân nhờ” – một cán bộ về hưu bức xúc nói:

Nên chăng, chúng ta có thể đợi tới lúc công nghệ phát triển, kỹ thuật giúp chi phí thấp hơn thì khai thác. Với khoáng sản, không chỉ than mà các sản phẩm khác như: nhôm, đồng, titan… càng để lâu trong lòng đất càng giá trị, vì trữ lượng có hạn. “Cơm không ăn thì gạo còn đó”, không có gì mà phải vội vàng cả.

Chính vì vậy, đừng khai thác bằng mọi giá để rồi phải trả giá. Và quan trọng hơn, khai thác bể than Sông Hồng bây giờ đồng nghĩa với việc các vị đang “gặm nhấm” vào tương lai con em chúng ta!