Hạn chế “tay trong” cho nhà thầu Trung Quốc

Thứ Tư, 16.01.2019, 16:04

Dù năng lượng tái tạo nước nhà có tiềm năng nhưng không thể thay thế nguồn năng lượng hiện hữu trong tương lai gần và cần có lộ trình. Nếu các gói thầu trọng điểm tiếp tục rơi vào tay Trung Quốc thì vấn đề an ninh năng lượng, an ninh quốc gia thực sự đang rất đáng lo ngại.

Nhiều nhà thầu Trung Quốc tham gia vào nhiều dự án năng lượng, trong đó có năng lượng tái tạo để lại những lo lắng nhất định

Nhà thầu Trung Quốc “thâu tóm” nhiều nguồn sản xuất năng lượng

Theo một con số thống kê, có tới hơn 30 doanh nghiệp Trung Quốc đang thực hiện các dự án trọng điểm quốc gia. Xét riêng về điện, đã có nhiều dự án tỷ USD rơi vào tay nhà thầu Trung Quốc.

Từ năng lượng tái tạo…

Hiện nay Việt Nam chưa có quy hoạch quốc gia về năng lượng tái tạo, điện mặt trời mới chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu nguồn điện của Việt Nam. Thế nhưng, Thực tế cho thấy, ngày càng nhiều dự án điện mặt trời được khởi công tại Việt Nam, đặc biệt là khu vực miền Trung, với sự tham gia của các nhà thầu ngoại. Nhiều dự án điện tại Việt Nam mang dấu ấn đậm nét của nhà thầu Trung Quốc, trong có phải kể đến nhà thầu Power China Kuming Engineering Corporation Limited Consortium.

Power China đã trúng gói thầu EPC thiết kế, cung cấp vật tư thiết bị, xây dựng và lắp đặt Nhà máy Điện mặt trời Vĩnh Tân 2 thuộc Dự án Nhà máy Điện mặt trời Vĩnh Tân 2 do Liên danh nhà thầu Sinohydro Corporation Limited – Power China Kuming Engineering Corporation Limited Consortium đảm nhận.

Power China cũng là nhà thầu thực hiện các gói thầu quan trọng của dự án điện tái tạo Hồng Phong 1, Hồng Phong 2 thuộc Tổng công ty cổ phần Thương mại và Xây dựng (Vietracimex). Đây cũng là nhà thầu tham gia thực hiện gói thầu DMS-8 về thiết kế, cung cấp, lắp đặt và thử nghiệm thiết bị quang điện thuộc Dự án Nhà máy Điện mặt trời Đa Mi; tham gia thực hiện gói thầu tại Dự án Nhà máy Thủy điện Sông Bung 4 (Quảng Nam)…

Đến thủy điện, nhiệt điện…

Tiêu biểu phải kể đến dự án điện Quảng Ninh 1, 2 với giá trị 400 triệu USD, điện Mỹ Tân 2 với số vốn 1,3 tỷ USD, điện Duyên Hải 1 là 4,4 tỷ USD… Và trong 19 dự án nhiệt điện BOT hiện nay, có 3 dự án có sự tham gia của nhà đầu tư Trung Quốc với cổ phần chiếm chi phối. Đó là dự án nhiệt điện Vĩnh Tân 1, Vũng Áng 2 và Vĩnh Tân 3.

Chưa dừng lại, gần đây, Bộ Công Thương đã có văn bản xin ý kiến các bộ ngành về việc chuyển giao chủ đầu tư nhà máy nhiệt điện Long Phú III từ Tập đoàn Dầu khí Việt Nam sang cho nhà đầu tư Trung Quốc – Công ty TNHH lưới điện Phương Nam Trung Quốc (CSG). Kiến nghị Thủ tướng giao dự án Nhiệt điện Quỳnh Lập 1 cho liên danh Tập đoàn Geleximco – Công ty TNHH Hong Kong United (HUI) thay cho Tập đoàn Công nghiệp Than – khoáng sản Việt Nam (TKV)..v..v.

Dự báo đến năm 2025, Việt Nam cần 117 tỷ USD phục vụ cho các công trình xây dựng hạ tầng. Tức là, Việt Nam cần xây dựng nhiều dự án hạ tầng lớn. Để bảo đảm nhu cầu năng lượng cho đất nước, Việt Nam cần đẩy mạnh phát triển nguồn năng lượng tái tạo như điện gió, điện mặt trời như các nước châu Âu.

Tuy nhiên, dù năng lượng tái tạo nước nhà có tiềm năng nhưng không thể thay thế nguồn năng lượng hiện hữu trong tương lai gần và cần có lộ trình. Nếu các gói thầu trọng điểm tiếp tục rơi vào tay Trung Quốc thì vấn đề an ninh năng lượng, an ninh quốc gia thực sự đang rất đáng lo ngại.

Cảnh báo sớm về an ninh năng lượng?

Sau 10 năm thực hiện chiến lược phát triển năng lượng quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, ngành năng lượng Việt Nam đã có những bước phát triển nhất định theo các định hướng chiến lược đề ra, hiện công suất điện năng của Việt Nam đứng thứ 2 trong các nước ASEAN.

Vấn đề ở chỗ, nền kinh tế nước ta đang phát triển với tốc độ cao, kéo theo đó là sự gia tăng mạnh mẽ nhu cầu về năng lượng. Đây là vấn đề đang đặt ra nhiều thách thức rất lớn khi mà các nguồn năng lượng sơ cấp như than đá, dầu khí… đang cạn kiệt, không đủ cho nhu cầu trong nước. Trong đó, yêu cầu về bảo vệ môi trường đang tạo ra áp lực đối với việc thực hiện chiến lược đảm bảo an ninh năng lượng gắn với phát triển bền vững.

Đảm bảo an ninh năng lượng, an ninh quốc gia thì loại bỏ “tay trong” cho các nhà thầu Trung Quốc cũng là một việc cần quan tâm

Nhất là, trong giai đoạn đến năm 2030 nhu cầu sử dụng điện sẽ tiếp tục tăng trưởng ở mức cao. Phó tổng giám đốc Tập đoàn Điện lực Việt Nam Ngô Sơn Hải cho biết: “Theo tính toán, các năm 2019-2020, nhìn chung cung ứng điện có thể được đảm bảo, nhưng đến các năm 2021-2023, hệ thống điện không đáp ứng nhu cầu điện và nhiều khả năng xảy ra tình trạng thiếu điện tại miền Nam”.

Một thách thức nữa cho chính sách an ninh năng lượng của Việt Nam đến từ giải pháp nhập khẩu thủy điện. Việt Nam vừa là quốc gia ở thượng nguồn trong lưu vực 3S (Sesan-Serepok-Sekong) hưởng lợi từ phát triển thủy điện nhưng cũng vừa là hạ nguồn của dòng chính Mê Công, phải chịu tác động của việc xây dựng thủy điện thiếu bền vững trên thượng nguồn. Bằng chứng là các nước láng giềng xây dựng nhiều thủy điện trên dòng Mê Công và lưu vực 3S đã và đang hưởng không nhỏ đến sự phát triển của Đồng bằng Sông Cửu Long nói riêng và đất nước nói chung.

Thời gian qua, Chính phủ cũng đã có nhiều cơ chế để khuyến khích phát triển điện mặt trời, điện gió thông qua mức giá điện hấp dẫn, lên tới 9,35 cent/kWh cho điện mặt trời và khoảng 8,5 cent/kWh với điện gió. Động thái này đã thu hút hàng loạt dự án đầu tư vào năng lượng tái tạo. Đến nay, tổng số dự án đang xếp hàng để triển khai là 332 dự án điện mặt trời với tổng công suất lên đến hơn 26.000 MW. Điện gió cũng ghi nhận dự án Kê Gà – Bình Thuận có tổng công suất khoảng 3.400 MW.

Dẫu vậy, cần phải lưu lý, việc nhà thầu Trung Quốc “vươn tay” làm các dự án điện mặt trời ở Việt Nam có thể thấy sự tính toán. Ban đầu, họ chỉ làm những dự án nhỏ, đơn cử như dự án Nhà máy Điện mặt trời Vĩnh Tân 2 chỉ có công suất 42,65MWp, nhưng rồi họ sẽ tiến tới thâu tóm những dự án lớn hơn. Khi ấy, khả năng nhà thầu Trung Quốc tăng giá, độc chiếm thị trường Việt Nam, chiếm những gói thầu lớn hơn trên khắp cả nước phải được tính đến.

Không còn phải nghi ngờ, thực tế cho thấy, nhiều dự án do Trung Quốc thắng thầu ở ta đã gây tai họa như đội vốn quá nhiều, kéo dài thời gian thi công, chất lượng thì thôi rồi, gây ô nhiễm môi trường …. Một vấn đề khác, đó là Việt Nam phải nâng cao chất lượng cán bộ, tổ chức quản lý phải thật nghiêm để hạn chế tình trạng tiêu cực, làm “tay trong” cho nhà thầu Trung Quốc.

Điều này cũng có nghĩa, không thể lệ thuộc quá vào Trung Quốc, vay vốn của họ, khoán cho họ, cuối cùng họ nắm đằng chuôi, chỉ có mình chịu thiệt. Vẫn chưa quá muộn để Việt Nam xem xét lại chiến lược năng lượng tổng thể của mình, cân nhắc đầy đủ các lợi ích cũng như phí tổn về kinh tế, môi trường và xã hội, trong đó vấn đề an ninh quốc gia không thể xem nhẹ.