Việt Nam xét lại vai trò của vốn ODA?

Thứ Ba, 21.08.2018, 14:35

Mới đây, nguồn tin từ Bộ Tài chính, liên quan đến việc chuẩn bị thẩm định các dự án vay Nhật Bản trong năm tài khóa 2018, cho biết: mức lương phía đối tác yêu cầu cho một chuyên gia Nhật tại dự án ODA có thể lên tới 700 triệu đồng/tháng.

Nếu không có nguồn vốn ODA của Nhật, Thủ đô Hà Nội sẽ khó lòng xây dựng nổi cây cầu Nhật Tân, đường nối trung tâm ra sân bay Nội Bài và Nhà ga sân bay T2 đẹp đến như vậy.

Theo nhận định của Bộ Tài chính: “Con số này cao hơn khoảng 20 – 25% so với mức lương bình quân của tư vấn viên nước ngoài trong các dự án ODA, vay ưu đãi của Chính phủ và gấp đôi so với thu nhập kê khai nộp thuế trung bình của một người mang quốc tịch Nhật Bản làm việc tại Việt Nam năm 2016”. Cá nhân người viết cũng tin rằng mức lương trên là quá cao, vượt quá khả năng ngân sách của đất nước, và có lẽ đã đến lúc người Việt Nam, nhất là các lãnh đạo, nên tính lại chiến lược huy động và sử dụng vốn, trong đó có việc vay nợ nước ngoài, rằng ODA thực chất chỉ như một “miếng bánh khó nhai”.

Không thể phủ nhận vai trò của viện trợ phát triển chính thức (ODA, thường là các khoản vay ưu đãi với lãi suất thấp trong thời gian dài) như là một ngoại lực quan trọng đối với các nước thuộc Thế giới thứ 3 (nghèo hoặc đang phát triển). Nhưng trên thực tế, ODA hoàn toàn không phải là một sự đảm bảo chắc chắn cho những thành tựu kinh tế – xã hội ở những nơi tiếp nhận, mà điều này còn tùy thuộc rất lớn vào trình độ quản lý của từng nước, thông qua sự hợp lý và tính minh bạch trong việc xây dựng cơ chế chính sách để điều phối và sử dụng nguồn vốn này.

Về bản chất, ODA vừa là “cú hích” – nguồn bổ sung ngoại tệ, bù đắp cho sự thiếu hụt của đầu tư tư nhân, làm lành mạnh cán cân thanh toán và ổn định hệ thống bản tệ, … song đồng thời cũng có thể là “cú đấm” chí mạng nếu sử dụng kém, bởi ODA không hề được cho không – trừ những khoản nhỏ không hoàn lại dành cho giáo dục, y tế, văn hóa, … thì phần lớn nguồn vốn được đổ cho xây dựng cơ sở hạ tầng đều sẽ phải hoàn trả trong tương lai. Trong trường hợp của những quốc gia nghèo mà tham nhũng đã trở thành quốc nạn thì tình trạng thất thoát, lãng phí, bên cạnh trình độ quản lý yếu kém lẫn thiếu kinh nghiệm trong quá trình tiếp nhận cũng như xử lý, điều hành, … sẽ khiến hiệu quả và chất lượng của các dự án sử dụng ODA chỉ ở mức rất thấp, từ đó đẩy nước tiếp nhận vào tình trạng nợ nần.

Ngoài ra, các nước giàu khi cung cấp ODA thì cũng thường đã tính toán những lợi ích và chiến lược có lợi cho họ liên quan đến việc mở rộng thị trường, trải thảm đỏ chào đón nhà đầu tư – nói nôm na là “nắm đằng chuôi”. Chẳng hạn, nước nhận viện trợ tuy có toàn quyền quản lý sử dụng nguồn vốn, nhưng thông thường các danh mục của dự án ODA cũng phải đạt được thoả thuận, đồng ý của nước viện trợ thì mới được giải ngân (dù có thể không trực tiếp điều hành dự án nhưng nước viện trợ vẫn có thể tham gia gián tiếp dưới hình thức cử nhà thầu hoặc cung cấp sự hỗ trợ của chuyên gia).

Đối với trường hợp Nhật Bản, trong hoàn cảnh nền kinh tế quốc nội của họ đã trở nên bão hòa (do nhiều nguyên nhân như nạn giảm phát sau bong bóng tài chính năm 1989 và tình trạng già hóa dân số, …), chính sách viện trợ ODA cho nước ngoài thực sự là một “liều thuốc” giúp luồng tiền của họ không bị nằm chết một chỗ, các công ty tập đoàn còn có động lực để tiếp tục đầu tư mở rộng, và quan trọng hơn là trực tiếp tạo ra công ăn việc làm cho một đội ngũ chuyên gia trí thức đông đảo (khỏi lâm vào cảnh thất nghiệp, kéo theo nhiều vấn đề xã hội). Có thể nói, trên tư cách chủ nợ lớn của thế giới với cán cân tài khoản vãng lai luôn đạt thặng dư rất lớn, thì các nhà hoạch định chính sách Nhật Bản đã chuẩn bị cho tương lai kinh tế của nước họ trước cả một trăm năm. “Trước Thế chiến II, người Nhật có thuyết Đại Đông Á, thì nay họ có ODA.”

Sắp tới, Việt Nam còn có kế hoạch xây dựng hệ thống đường sắt cao tốc Bắc Nam sử dụng công nghệ Shinkansen của Nhật với kinh phí dự tính không ít hơn 60 tỷ USD, có lẽ chính phủ Nhật cũng chẳng ngại ngần gì mà không cho chúng ta vay phần lớn số tiền đó, bởi họ mới thực sự là người có lợi chứ không phải chúng ta. Thậm chí trong trường hợp những điều kiện ràng buộc từ phía Nhật là quá khắt khe thì các lãnh đạo của chúng ta có thể lại quay sang phương án vay ODA của Trung Quốc, khi đó mới thực sự là thảm họa (đường sắt trên cao Cát Linh Hà Đông chính là một bài học nhẵn tiền).

Việt Nam đang muốn xây dựng hệ thống đường sắt cao tốc Bắc Nam theo công nghệ Shinkansen của Nhật, và có lẽ chúng ta sẽ vay Chính phủ Nhật thêm vài chục tỷ USD nữa.

Đành rằng Việt Nam hiện là một trong 3 nước vay vốn lớn nhất của Nhật Bản (bên cạnh Ấn Độ và Indonesia), và quan hệ ngoại giao giữa 2 nước đang ở vào thời kỳ nồng ấm hơn bao giờ hết, nhưng điều đó không có nghĩa là chúng ta tự để cho mình ngày càng phụ thuộc vào họ. Để vươn lên phát triển mạnh mẽ, chúng ta cần thiết phải noi gương người Nhật thời Minh Trị (cuối thế kỷ 19) và công cuộc tái thiết đất nước sau chiến tranh khi phương châm của họ là “tự lực tự cường”. Thậm chí, để đầu tư cho hải quân (sau này đánh bại Hạm đội Bắc Dương đang trên đà phát triển của Nhà Thanh trong trận Hải chiến Giáp Ngọ 1894), cả hoàng đế và nội các Nhật Bản đã tình nguyện nhịn ăn một bữa mỗi tuần để đóng góp cho quốc khố, nhằm mua được những chiến hạm hiện đại nhất từ Đức và cũng không ngần ngại bỏ ra rất nhiều tiền (hoàn toàn từ nội lực của đất nước, không hề có ODA) để thuê các chuyên gia phương Tây tới dạy cho họ.

Trong điều kiện hiện nay của đất nước (Việt Nam đang có 95 triệu người, quy mô dân số trẻ, thu nhập ở ngưỡng gần 3000 USD/người/năm, các điều kiện tự nhiên và vị trí địa lý thuân lợi, …), đã tới lúc chúng ta cần nghĩ đến chuyện tốt nghiệp “lớp học ODA” và tư duy “phụ thuộc”, bởi học phí phải trả là quá đắt. Trong mối quan hệ hợp tác chiến lược với người Nhật, thứ mà chúng ta cần ở họ phải là tri thức, công nghệ, kinh nghiệm quản lý và tinh thần “vượt khó” … chứ không phải những đồng Yên (hay USD) mà họ chắc chắn sẽ lấy lại 9/10 phần. Mỗi người Việt Nam hãy tự vấn lương tâm mình, rằng “tự tôn dân tộc ở đâu?”.