Việt Nam đang bị “xâm lăng” về văn hóa?

Thứ Tư, 16.05.2018, 16:25

Vừa qua, một đoàn du khách (khoảng chục người) bay trực tiếp từ Trung Quốc đến thẳng sân bay quốc tế Cam Ranh. Khi đi qua cửa kiểm soát làm thủ tục, vào được bên trong sân bay Cam Ranh, những du khách Trung Quốc cởi áo khoác bên ngoài quàng xuống thắt lưng, để lộ ra áo thun họ đang mặc có hình “bản đồ lưỡi bò”.

“Lưỡi bò” xuất hiện mọi lĩnh vực, trong đó có thời trang thể hiện dã tâm của Trung Quốc

Sự việc này một mặt cho thấy nhóm du khách này cố ý khiêu khích, coi thường nước chủ nhà. Mặt khác, nó cũng dấy lên một sự lo ngại về vấn đề “an ninh văn hóa” và lộ rõ thêm nguy cơ, âm mưu “xâm lăng” về văn hóa của người bạn láng giềng “4 vàng, 16 tốt”.

Những cuộc đồng hóa văn hóa trên thế giới

Có nhiều ý kiến cho rằng: “Trên thế giới đang diễn ra hiện tượng xâm lược về văn hóa như là sự tiếp tục của những cuộc xâm lược bằng súng đạn và kinh tế”.

Tuy nhiên, xhác với xâm lăng bằng sức mạnh quân sự, xâm lăng văn hóa tinh vi đến mức khó nhận ra, đôi khi bị bỏ qua nếu xem xét sự việc một cách thiển cận, không đầy đủ. Nhưng hậu quả của xâm lăng văn hóa thì cực kì to lớn: Cả dân tộc bị đồng hóa, xã hội lụng bại, các thể lực thù địch dễ bề thôn tín, dân tộc bị xâm lăng văn hóa sẽ không còn tồn tại trong lịch sử loài người như một thực thể riêng, đặc trưng.

Trong lịch sử, các nền văn hóa yếu thường bị nền văn hóa mạnh đồng hóa. Thời cổ, Trung Quốc là quốc gia đông người nhất và có nền văn minh tiên tiến nhất châu Á. Nền văn hóa Hán ngữ của họ có sức đồng hóa rất mạnh. Dân tộc Hồi ở phía Tây nước này, ngày xưa dùng chữ A Rập, sau nhiều năm giao lưu với người Hán cũng toàn bộ dùng chữ Hán và nói tiếng Hán. Ngay cả các dân tộc nhỏ nhưng mạnh về quân sự, sau khi thôn tính và thống trị Trung Quốc được ít lâu cũng bị nền văn hóa Hán ngữ đồng hóa.

Ví như: Dân tộc Mãn sau khi chiếm Trung Quốc và lập triều đại nhà Thanh đã lập tức tiến hành đồng hóa dân tộc Hán: cưỡng bức đàn ông Hán phải cạo nửa đầu và để đuôi sam, phải bỏ chữ Hán mà chỉ dùng chữ Mãn làm chữ viết chính thức trên cả nước. Nhưng đến giữa đời Thanh, tức sau khoảng 100 năm thì tiếng Mãn cùng chữ Mãn đều biến mất, từ đó trở đi người Mãn chỉ dùng tiếng Hán và chữ Hán, nghĩa là họ lại bị đồng hóa ngược bởi chính nền văn hóa của dân tộc bị họ cai trị lâu tới 267 năm!

Góc nhìn khác, các nước đế quốc, thực dân sau khi chiếm thuộc địa đều cưỡng chế đồng hóa ngôn ngữ dân bản xứ, quá trình này diễn ra khá nhanh, nhìn chung sau 5-6 thế hệ (mỗi thế hệ 25 năm), tiếng nói của người bản xứ đã bị thay bằng ngôn ngữ của nước cai trị.

Chẳng hạn: Đầu thế kỷ XV, Brazil bị Bồ Đào Nha chiếm, chẳng bao lâu tiếng Bồ trở thành ngôn ngữ chính thức duy nhất của người Brazil. Nhiều thuộc địa Pháp ở châu Phi như Bénin, Togo, Sénegan… dùng tiếng Pháp làm ngôn ngữ chính duy nhất. Năm 1918 nước ta bắt đầu dạy tiếng Pháp ở lớp cuối tiểu học, 10-20 năm sau toàn bộ học sinh trung học cơ sở trở lên đến trường đã chỉ nói tiếng Pháp, giáo viên chỉ giảng dạy bằng tiếng Pháp. Nếu kéo dài thêm vài chục năm nữa thì có lẽ Việt Nam đã trở thành nước nói tiếng Pháp?

Giờ đây, khi cuộc “thập tự chinh” của các nước được mệnh danh là cường quốc, phát triển không còn sử dụng được “chiếc ô hạt nhân” làm bệ phóng. Thì phương thức “diễn biến hòa bình” được ưu tiên sử dụng. Trong đó, 2 chiêu bài được phơi bày là “tự do kinh tế” và “trào lưu văn hóa …”. “Tự do kinh tế” là hậu phương vững chắc nhằm tiến sâu hơn vào lĩnh vực văn hóa.

Người Trung đang dùng “quyền lực mềm” để xâm lược Việt Nam?

Phải nói rằng, “tự do kinh tế” đã dẫn đến việc không ít người tiêu dùng rơi vào “ma trận” hàng hoá Trung Quốc khi nó tràn ngập thị trường. Kéo theo chuyện, người tiêu dùng cũng sẽ khó hoặc không phân biệt được đâu là hàng Việt đâu là hàng Trung Quốc, đặc biệt là chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm.

Kiến trúc, thời trang…là một trong chiến lược “tằm ăn dâu về văn hóa” của Trung Quốc với Việt Nam

Cũng từ “tự do kinh tế” mà đã xuất hiện tư tưởng kinh doanh chỉ nhằm vào chữ “lợi” mà quên đi yếu tố dân tộc, chủ quyền dân tộc quốc gia. Xét riêng về lĩnh vực du lịch, nếu không có sự tiếp tay của những người làm du lịch, thì liệu khách Trung Quốc có cơ hội tràn vào lãnh thổ như Việt Nam “đông như quân Nguyên” mà lại mang theo được hộ chiếu, thời trang… in hình “bản đồ lưỡi bò”!

Có người băn khoăn: “Trên đất nước của mình, bãi biển của mình nhưng lại thấy như lạc vào xứ người, đi đâu cũng toàn người Trung, nhà hàng, khách sạn, sản phẩm thì toàn tiếng Hoa, thậm chí bị xua đuổi vì “chỉ tiếp khách Trung Quốc” và chỉ sử dụng đồng Nhân Dân Tệ. Tại sao lại tự biến chính mình thành “nô lệ” cho nước bạn?”

Thực tiễn lịch sử đã chứng minh rằng văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần để phát triển một dân tộc mà còn là một công cụ để bảo vệ dân tộc. Một dân tộc bị mất Tổ quốc nhưng vẫn có thể giữ gìn được văn hóa thì sẽ có ngày phục quốc, còn một dân tộc khi đánh mất đi văn hóa của mình thì sẽ mất tất cả.

Cũng từ thực tiễn, chúng ta thấy văn hoá thuần Việt xuất hiện rõ nét nhất trên những hoa văn, phù điêu của các ngôi chùa cổ. Những nét thủ công nghệ thuật ấy phát xuất từ ý thức sâu sắc muốn thoát ra làn sóng đô hộ văn hoá của phương Bắc làm nên nét đặc thù văn hoá phương Nam.

Đáng buồn thay, nếu như tổ tiên ta càng ý thức điều này bao nhiêu thì các thế hệ sau lại thờ ơ với nó bấy nhiêu. Nhiều ngôi chùa gần đây không thể gọi là chùa của người Việt được nữa mà phải thành thật nhận rằng nó được mang nguyên mẫu từ Trung Quốc hay Đài Loan sang.

Những ngôi chùa rất là đồ sộ mang dấu ấn của Trung Quốc, không có yếu tố Việt Nam rất rõ như: Công trình chùa Bái Đính ở Ninh Bình hay là công trình Đại Nam Lạc Cảnh ở Bình Dương ở trong đó. Đài tưởng niệm liệt sĩ là 10 cô gái ở Đồng Lộc, cái tháp chuông ở Đồng Lộc lại là phiên bản của Hoàng Hạc Lâu bên Trung Quốc. Ngay cả Bảo tàng Hà Nội là một bảo tàng vừa mới xây dựng xong cũng là một mô hình copy từ một công trình kiến trúc ở Thượng Hải.

Chuyên gia Hán nôm – TS Nguyễn Xuân Diện nhận xét: “Trong tình hình hiện nay cái chữ “xâm lăng”, phải nói như thế, về mặt văn hoá của Trung Quốc và một sự chống chõi yếu ớt, nhu nhược của những người làm công tác văn hoá ở Việt Nam hiện nay rất đáng báo động. Ai cũng có thể thấy rõ là trên các kênh truyền hình của đài truyền hình trung ương cũng như các địa phương, thời lượng phát sóng dày đặc các phim của Trung Quốc. Bây giờ đang là mùa trung thu, cũng như suốt cả năm đồ chơi trẻ con phải nói 80% là của Trung Quốc”.

Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn khi xưa từng quan ngại “nếu giặc tiến công như vũ bão thì không sự, chỉ sợ giặc gặm nhấm như tằm ăn dâu”. Rất tự hào bởi sau hơn 1.000 năm bị phong kiến phương Bắc thống trị và cưỡng bức đồng hóa, dân tộc Việt Nam vẫn không bị Hán hóa, vẫn giữ nguyên được nòi giống, tiếng nói và phong tục tập quán.

Thế nên, cần phải nhớ, xâm lăng văn hóa là những cách thức trực tiếp, có chủ đích hay tiến hành một cách vô thức nhằm chiếm lấy ảnh hưởng trong đời sống xã hội, từ đó làm mờ dần và dẫn đến xòa nhòa. Cuối cùng là tàn lụi nền văn hóa vốn có của một dân tộc. Khi biên giới văn hóa được mở rộng thì cũng có nghĩa là biên giới địa lí cũng được mở rộng theo.

Cái thâm hiểm của người Trung là tấn công ồ ạt về kinh tế, nhằm tạo nên thói quen văn hóa sử dụng hàng Trung, quen dần với sự có mặt của hàng hóa và con người phương Bắc. Để rồi, xem sự xuất hiện đó là chuyện “thường ngày ở huyện”, không có sự đề phòng, đấu tranh.

Nói cách khác, Trung Quốc đang dùng “quyền lực mềm”: Kinh tế, thương mại, phim ảnh, thời trang… để xâm lăng nước ta về văn hóa. Người dân, doanh nghiệp vịn vào cớ là “vì miếng cơm manh áo” mà làm ngơ. Còn những người có thẩm quyền vì cái gì mà lại làm ngơ, tỏ ra không hề biết.

Đây là một vấn đề thật sự cần nhìn lại không những của những người cán bộ làm văn hoá mà còn của cả xã hội để dần dần thoát ra khỏi hệ luỵ này.