Bài nổi bật

BBT

Nơi lưu trữ những bài viết của các Ban Biên Tập, các bài viết được chọn lựa kỹ càng được lấy từ các nguồn tin đáng tin cậy

Vay ODA, đến những đứa trẻ chưa sinh ra cũng bị ăn chặn!

Thứ Tư, 27.06.2018, 14:59

Vốn ODA được gọi bằng cái tên mỹ miều là vốn “hỗ trợ phát triển chính thức”, còn gọi là “vốn viện trợ”, khiến không ít người nhầm tưởng đây là “của chùa”. Thực chất đây là vốn vay, vốn viện trợ không hoàn lại chiếm tỷ lệ rất thấp chủ yếu để giúp một số chương trình kỹ thuật và đào tạo (giai đoạn đầu khoảng 10%, giai đoạn sau chiếm chưa tới 5%).

Gần 25 năm qua, từ 1993-2017, tổng vốn ODA cam kết cho Việt Nam khoảng hơn 100 tỷ USD (con số thống kê được từ 1993-2014 : vốn cam kết 89,5 tỷ USD, vốn đã ký kết 73,68 tỷ USD, bình quân mỗi năm 3,5 tỷ USD, vốn đã giải ngân đạt 73,2% vốn ký kết). Hiện có trên 25 ngàn dự án sử dụng nguồn vốn này.

Vay ODA lãi suất thấp và thời gian trả nợ dài (ngắn nhất trên dưới 20 năm, dài nhất trên dưới 40 năm). Lãi suất thấp nhưng với các điều kiện áp đặt, thường là chỉ định nhà thầu và yêu cầu mua máy móc, thiết bị từ quốc gia cho vay, nên chi phí đầu tư thực tế cho dự án sử dụng ODA cao hơn rất nhiều so với vốn vay thông thường. Có nghĩa cái gọi là lãi suất ưu đãi không những không có lợi gì cho bên vay mà còn gây thiệt hại so với vay thông thường. Không có lợi gì sao lại hăng hái vay ODA đến vậy ? Đơn giản là do thời gian vay dài nên thế hệ đi vay không phải trả. Thế hệ sau, trong đó có nhưng người bây giờ chưa sinh ra, sẽ phải trả.

Trước khi xảy ra vụ tham nhũng tại PMU 18, một cán bộ an ninh kinh tế nói với tôi, không bao giờ có một cuộc điều tra nào về những sai phạm trong sử dụng vốn ODA, bất kỳ một phát hiện nào cũng đều bị chỉ đạo dừng điều tra. Bởi vậy mà suốt gần 25 năm sử dụng vốn ODA, công luận mới chỉ biết đến vụ PMU18, vụ ông Huỳnh Ngọc Sỹ ở Đại lộ Đông – Tây và vụ hối lộ trong dự án Đường sắt. Vụ PMU 18 thì báo chí và các cán bộ công an chống tham nhũng bị đàn áp để dập tắt, hai vụ sau do người… Nhật phát hiện.

Thất thoát từ vốn ODA diễn ra ở ba tầng:

Tầng thứ nhất là tình trạng “lại quả” giống như các mọi dự án khác nếu như dự án sử dụng vốn ODA được thực hiện bởi các nhà thầu trong nước.

Tầng thứ hai là quốc gia cho vay ép phải chỉ định các nhà thầu của họ, khiến cho giá thầu cao hơn nhiều so với đấu thầu cạnh tranh. Khoản thất thoát này do nước ngoài lấy.

Tầng thứ ba, ép phải mua máy móc, thiết bị của quốc gia cho vay. Giá cả đương nhiên là cao hơn giá cả mua sắm theo đấu thầu cạnh tranh. Khoản thất thoát qua giá cả này cũng do nước ngoài lấy.

Tóm lại, các dự án ODA không biết có để lại gì đáng giá cho thế hệ tương lai hay không, nhưng những đứa trẻ đang nằm trong nôi và những đứa trẻ sắp chào đời không những sẽ phải trả nợ mà còn phải gánh trên lưng 3 tầng tham nhũng từ nguồn vốn này.

Vốn ODA có thể có vai trò hỗ trợ nhất định trong bước đầu phát triển đất nước nhưng xét về mọi phương diện thì rủi ro đều nhiều hơn thuận lợi. Lịch sử thế giới cho thấy, vốn viện trợ theo theo kế hoạch Marshall dùng để tái thiết châu Âu sau Đại chiến II tuy có thúc đẩy quá trình khôi phục kinh tế sau chiến tranh, nhưng theo nhận xét của Cựu Chủ tịch Cục Dự trữ liên bang Mỹ Alan Greenspan thì sự phát triển của châu Âu hiện nay chủ yếu bắt nguồn từ các chính sách thị trường tự do của Tây Đức. Khai thông cho sự vận hành thông suốt của thị trường có tác dụng thúc đẩy thịnh vượng lớn hơn rất nhiều so với bất kỳ nguồn vốn hỗ trợ phát triển nào từ các chính phủ.

Ở Việt Nam, giáo sư Trần Văn Thọ (Đại học Waseda, Nhật Bản) từng cảnh báo : “Không phải nước nào nhận ODA cũng thành công trong phát triển kinh tế. Với những nước ODA không được sử dụng có hiệu quả, không thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế thì việc vay mượn ODA sẽ trở thành bi kịch cho các thế hệ sau. Cho đến nay, số trường hợp các quốc gia thất bại trong sử dụng ODA nhiều hơn hẳn những nước thành công” (*). Giáo sư Thọ cho rằng, Việt Nam là nước nhận ODA tràn lan, tính theo đầu người bình quân mỗi năm lên tới 40 USD nhưng sử dụng kém hiệu quả, trong khi Hàn Quốc cũng vay mượn ODA nhưng mức cao nhất vào thời kỳ 1960-1972 cũng chỉ độ 10 USD. Còn Thái Lan, giai đoạn đầu chỉ vài USD đầu người mỗi năm, phổ biến ở mức 5 USD, cao điểm cũng chỉ lên 15 USD.

Có lẽ chính trị gia có trách nhiệm với tương lai nhất trên thế giới là Tổng thống Hoa Kỳ Thomas Jefferson, tác giả bản Tuyên ngôn độc lập bất hủ của nước Mỹ. Ông không chỉ là người kiên quyết không chịu sống chung với nợ mà còn dứt khoát không để lại nợ nần cho thế hệ sau. Ông cho rằng mỗi một thế hệ là một dân tộc riêng biệt, thế hệ này không có quyền để cho thế hệ sau kế thừa di sản nợ nần của mình. Nợ của thế hệ nào vay thì thế hệ đó nhất định phải tự trả.

(*) Trần Văn Thọ : Tiến tới “tốt nghiệp” ODA toàn phần, tiasang.com.vn, 22-6-2017.

Theo FB Hoàng Hải Vân 

  • Bài viết thể hiện văn phong và góc nhìn của tác giả, butdanh chuyển tải đến bạn đọc để có góc nhìn khác
Từ khóa: ,