Từ câu chuyện Lưu Bình Nhưỡng, xét lại vai trò của đại biểu quốc hội

Thứ Năm, 08.11.2018, 15:13

Mới đây, Đại biểu Quốc hội tỉnh Bến Tre, ông Lưu Bình Nhưỡng đã gây xôn xao nghị trường khi công bố những số liệu – mà ông gọi là sự thật khủng khiếp, song chưa được kiểm chứng – về những sai sót trong hoạt động thụ lý hồ sơ của Cơ quan điều tra Bộ công an.

Đại biểu Quốc hội (đại diện tỉnh Bến Tre) Lưu Bình Nhưỡng đã không ít lần gây sốc trên nghị trường.

Cụ thể, tại phiên họp ngày 31/10, trong phần đặt câu hỏi chất vấn, ông Nhưỡng đã đưa ra những thông tin (mà không rõ ông lấy ở đâu), rằng “tỷ lệ không thụ lý tin tố giác của Cơ quan điều tra Bộ Công an là 94%, chậm gửi quyết định cho Viện kiểm sát 86%, xử lý tin tố giác quá hạn 99,76%, vi phạm trong tống đạt 100% … ”, rồi đề nghị Bộ Công an cần nhanh chóng có biện pháp chấn chỉnh. Phát ngôn trên thật sự đã gây hoang mang dư luận và làm dậy sóng cả ngành công an, với hậu quả thậm chí hết sức khôn lường, nhất là trong thời đại mạng xã hội lên ngôi, khi có thể làm gia tăng sự bất mãn và khuyến khích người dân hành xử theo hướng tự phát, bất hợp tác với chính quyền và không còn tôn trọng luật pháp.

Đành rằng bộ máy công quyền, nhất là các cơ quan điều tra và nhánh tư pháp của Việt Nam còn tồn tại rất nhiều vấn đề cần phải khắc phục để thực sự vận hành hiệu quả và bám sát cuộc sống, song chắc chắn tỷ lệ sai phạm không thể ở mức trên 80 – 90 % như ông Nhưỡng nhận định. Thực vậy, con số này theo báo cáo của Bộ Công an, cho giai đoạn từ 1/10/2017 – 30/09/2018, chỉ là rất nhỏ, chưa tới 0,1% – tỷ lệ được xem là chấp nhận được, nhất là trong bối cảnh phức tạp hiện nay của đất nước (vấn đề đôi khi không phải chỉ thuộc về lỗi của cơ quan điều tra, mà còn nằm ở người gửi đơn, do chưa nắm rõ hoặc không nhận được sự tư vấn đầy đủ về mặt pháp luật).

Hiện nay, các phiên họp chất vấn và trả lời chất vấn tại Quốc hội đang ngày càng được cử tri và nhân dân cả nước đặc biệt quan tâm, theo dõi – đó là tín hiệu đáng mừng, bởi sẽ khuyến khích các bộ ngành phải chịu khó lắng nghe, tiếp thu các ý kiến đóng góp trên tinh thần xây dựng nhằm khắc phục những vấn đề thiếu sót còn tồn tại và thực hiện tốt hơn nữa nhiệm vụ của mình. Tuy nhiên ngược lại, các ý kiến đánh giá cũng cần phải được nêu một cách khách quan, thận trọng, không nên quá phiến diện một chiều, như chỉ nhìn ở khía cạnh tiêu cực, mà cần đứng trên lập trường tổng thể, tránh gây hiểu sai và hoang mang dư luận.

Có người còn nói, khi ông Lưu Bình Nhưỡng phát biểu như trên, rất có thể là do một động cơ chính trị đặc biệt nào đó – điều chưa thể khẳng định được, tuy nhiên có lẽ Quốc hội nên thẩm tra lại tư cách đại biểu cùng bằng cấp, trình độ chuyên môn lẫn năng lực làm việc của ông này. Được biết, ông Nhưỡng có học vị tiến sĩ (chuyên ngành Luật kinh tế) và còn là Phó Chủ nhiệm Khoa Pháp luật Kinh tế – Đại học Luật Hà Nội, với hàng trăm bài viết học thuật, sách biên khảo và đề tài khoa học cấp nhà nước … nhưng trên cương vị ở Quốc hội, ông đã không ít lần gây tranh cãi bằng những phát ngôn và hành động rất khó hiểu, nhiều khi còn mắc lỗi ngụy biện nghiêm trọng, theo kiểu: “Chết không có nghĩa là hết nghĩa vụ đóng thuế”, “tội hối lộ không phải là tội tham nhũng”, hay “thực ra câu chuyện các cá nhân chọn “lắc” hay không “lắc” (ma túy) là vấn đề thuộc về quyền con người” … Thử hỏi, người như vậy làm sao mà đào tạo ra các luật gia tương lai cho đất nước, nhất là trước những thách thức hội nhập mới?

Ông Nhưỡng từng đề xuất chuyển giao “nghĩa vụ đóng thuế” của người chết sang người còn sống.

Thế mới thấy, không phải cứ bằng cấp cao thì mới hiểu chuyện và làm được việc, nhất là trong hoàn cảnh nền giáo dục cùng hệ thống văn bằng chứng chỉ do Việt Nam cấp đang rất có vấn đề, bao gồm cả ngành luật. Như mới đây, một nữ thẩm phán tại Thái Nguyên đã bị tước bằng cử nhân luật do sử dụng bằng tốt nghiệp phổ thông giả để tham gia kỳ thi đại học (sau đó đỗ, tốt nghiệp và làm tới thẩm phán của một tỉnh) – nghe như chuyện khôi hài, nhưng hoàn toàn là sự thật, chưa kể sau đó Toàn án Nhân dân Tối cao lại còn có văn bản đề nghị Bộ Tư Pháp và Trường Đại học Luật Hà Nội khôi phục bằng cử nhân cho bà này vì đã kịp bổ sung bằng cách thi lại. Trong lúc đó, khác với chúng ta, quy trình đào tạo và cấp bằng, chứng chỉ hành nghề đối với một số lĩnh vực đặc thù như luật, y, cảnh sát … ở các quốc gia phát triển là cực kỳ ngặt nghèo do liên quan tới an ninh, tính mạng người dân và thậm chí là cả tiền đồ của đất nước.

Đại biểu quốc hội (tức dân biểu) được bầu lên để đại diện thay cho người dân ở nghị trường, có nhiệm vụ lên tiếng và đấu tranh cho quyền cùng lợi ích hợp pháp của họ. Do đó, người làm dân biểu, dù không nhất thiết phải được đào tạo chính quy về luật, nhưng điều kiện tiên quyết là cần am tường luật pháp, bao gồm cả kỹ năng và quy trình lập pháp (có thể thông qua con đường tự học). Như vậy, người được dân tin, giao trọng trách cần phải hết sức cẩn trọng trong phát ngôn và hành động, tuyệt không thể nói bừa, cho vui, hay đơn giản để cho xong nhiệm vụ. Thứ nữa, dân biểu lại càng cần phải hiểu sâu sắc về các vấn đề xã hội, có vậy mới đưa ra được những kiến nghị và đề xuất phản ánh đúng tâm tư nguyện vọng của người dân, cùng đáp ứng được đòi hỏi từ quá trình phát triển thực tiễn của đất nước – điều chỉ có thể đạt được khi các đại biểu thường xuyên tiếp xúc và vận động cử tri, nhưng đáng tiếc đây lại là khâu yếu nhất trong ngành lập pháp của Việt Nam, một phần cũng do thiết kế và quy trình bầu cử còn nhiều khiếm khuyết (đặc biệt là chuyện đề cử người sống ở nơi khác, không quen thuộc với địa phương làm đại biểu đại diện … và đưa các quan chức hành pháp như bộ trưởng, thứ trưởng cũng đồng thời kiêm luôn cả đại biểu quốc hội, đại diện cho các tỉnh thành – điều mà không nước phát triển nào làm giống như vậy cả).

Năm 2014, ông Lê Như Tiến (Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, giáo dục thanh niên, thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội) đề xuất rằng thí sinh đã “sống thử” (quan hệ tình dục) thì không được thi hoa hậu.

Sau cùng, dân biểu nên tranh luận về chủ đề gì tại quốc hội cũng lại là một câu chuyện đáng bàn. Có lẽ đã tới lúc chúng ta cần nghiên cứu, xem xét để có sự phân quyền và tách bạch hơn về mặt chức năng giữa Quốc hội (đại diện cho quốc gia) và Hội đồng nhân dân ở các địa phương. Quốc hội phải là nơi để những tinh hoa chính trị (được nhân dân bầu chọn) tới gặp, bàn bạc, tranh cãi nhằm đưa ra các đối sách ở tầm vĩ mô, liên quan đến tiền đồ, an nguy và vận mệnh quốc gia, như chi tiêu ngân sách, tinh giản biên chế nhà nước, tham gia hiệp định thương mại tự do, tranh chấp lãnh thổ hay thậm chí là gia nhập liên minh quân sự hoặc tuyên bố chiến tranh … chứ không phải những câu chuyện tầm phào theo kiểu “có nên thu thuế người chết” hay “cần kiểm tra trinh tiết của thí sinh thi hoa hậu” …