Truyền thống dân tộc từ thưở vua Hùng đến ngày giải phóng đất nước 30/04/1975

Thứ Sáu, 27.04.2018, 15:34

Lịch sử dân tộc Việt Nam từ khi ra đời tới nay là lịch sử của dựng và giữ nước luôn gắn bó với nhau. Trong suốt 4.000 năm lịch sử hình thành và phát triển đó, truyền thống có ảnh hưởng sâu sắc đến hệ tư tưởng và các thành quả tinh thần và vật chất của nhân dân ta.

Giỗ tổ Hùng Vương – cầu nối cho giá trị truyền thống của dân tộc Việt

“Dù ai đi ngược về xuôi/Nhớ ngày giỗ Tổ mùng mười tháng ba”, Người Việt từ ngàn đời xưa vốn dĩ đã theo một nét văn hóa và đạo rất đẹp: Đạo thờ cúng ông bà tổ tiên. Và trên cả ông bà, là tổ tiên, nhưng đi đến tận cùng, ngọn nguồn chính là ngày Quốc giỗ – Giỗ tổ Hùng Vương.

Trong những ngày này, người Việt Nam dù đang ở đâu đều hướng lòng mình về Đất Tổ Vua Hùng (Phú Thọ), để dâng một nén tâm hương nhớ lại hành trình dằng dặc của ông cha trong hành trình “tìm hình của nước”.

Hùng Vương – nơi dân tộc Việt khởi nguồn và được sinh ra

Từ xa xưa, ngày Giỗ Tổ Hùng Vương đã có một vị thế đặc biệt trong tâm thức của người Việt. Nếu tính từ thời vua Lê Thánh Tông, ngày giỗ Tổ đã trở thành Quốc lễ của đất nước tới nay cũng đã kéo dài hơn 600 năm rồi.

Nhưng theo những gì sử học ghi chép lại, thì những triều đại của Việt Nam tổ chức ngày Quốc lễ còn có thể lâu hơn thế. Bản sao chép đóng dấu kiềm để tại Đền Hùng của đời vua Lê Kính Tông năm 1601, nói rằng: “…Từ nhà Triệu, nhà Đinh, nhà Lê, nhà Lý, nhà Trần đến triều đại ta bây giờ là Hồng Đức Hậu Lê vẫn cùng hương khói trong ngôi đền ở làng Trung Nghĩa. Những ruộng đất sưu thuế từ xưa để lại dùng vào việc cúng tế vẫn không thay đổi…”.

Trong triều đại nhà Nguyễn, thì vào năm Khải Định thứ 2 (1971), Tuần phủ Phú Thọ Lê Trung Ngọc đã trình bộ Lễ định ngày 10 tháng 3 âm lịch hàng năm làm ngày Quốc tế (Quốc lễ, Quốc giỗ). Và từ ngày 10/3 (Âm lịch) đó đến nay cũng đã hơn 1 thế kỷ.

Sau Cách mạng tháng Tám (1945) thành công, Đảng và Nhà nước ta cũng kế tục truyền thống cao đẹp của cha ông, nhất là đạo đức “uống nước nhớ nguồn”. Ngày 18/02/1946, Chủ tịch nước Hồ Chí Minh cũng đã ký sắc lệnh số 22/SL – CTN cho công chức nghỉ ngày 10/03 (âm lịch) hằng năm để tham gia hoạt động Giỗ Tổ Hùng Vương – hướng về cuội nguồn dân tộc.

Cũng trong ngày Quốc giỗ năm 1946 (Bính Tuất) – năm đầu tiên của Chính phủ mới được thành lập, cụ Huỳnh Thúc Khánh giữ quyền Chủ tịch nước đã dâng một tấm bản đồ Tổ quốc Việt Nam với thanh gươm quý. Nhằm cáo với Tổ tiên về nguy cơ đất nước bị xâm lăng và cầu mong quốc thái dân an, thiên hạ thái bình, cùng nhau đoàn kết, đánh tan quân xâm lược, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ đất nước.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã có hai lần về thăm Đền Hùng (19/09/1954 và 19/08/1962). Tại đây, Người đã có câu nói bất hủ: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước – Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.

Ngày nay, ngày Giỗ Tổ Hùng Vương đã được Ban Bí thư ghi trong thông báo của năm 1995. Nghị định số 82/2001/NĐ-CP ngày 06/11/2001, về Nghi lễ Nhà nước, có nội dung quy định cụ thể về quy mô tổ chức Giỗ Tổ Hùng Vương hằng năm.

Tinh thần đoàn kết của dân tộc suốt 4.000 năm lịch sử

Lịch sử 4.000 năm qua của dân tộc ta phải luôn đối mặt với những tiên giặc ngoại xâm vô cùng hung hãn. Trong quá trình dựng và giữ nước đầy gian khổ đó, không biết bao thế hệ đã phải ngã xuống, bằng một truyền thống đoàn kết, anh dũng, kiên cường, thông minh, sáng tạo. Mà nhân dân bao thế hệ đã làm nên những chiến công oai hùng, khẳng định chủ quyền, bồi đắp bản sắc dân tộc và dựng nên “hình hài Tổ quốc”.

Mặc dù thời kỳ Hùng Vương vẫn rất mơ hồ, không rõ ràng, chẳng có sử sách ghi chép cụ thể, nhưng đây lại là nơi mà khởi đầu cho mọi âm thanh, nơi ngươi Việt cất tiếng ca đầu tiên của buổi đầu dựng nước. Đó là nơi hồn dân tộc vẫn thẫm đẫm, vang vọng âm thanh suốt 4.000 năm lịch sử. Nơi mà tổ tiên người Việt đã nhào nặn nên đất nước này, để cho tới ngày nay nó có đủ hình hài của một mảnh đất hình chữ S.

Kể từ ngày Hùng Vưng dựng nước, truyền thuyết “Trăm trứng nở trăm con” đã dạy cho chúng ta một bài học về cuộc nguồn của mình. Chúng ta là giống nòi của “Con Rồng cháu Tiên” – nơi hai tiếng thiêng liêng “Đồng Bào” (cùng một bọc) được sinh ra.

Có lẽ, không có một quốc gia nào trên thế giới gọi nhau là đồng bào như người Việt. Từ ngữ in sâu một nghĩa dân tộc sinh ra từ một bào thai, cùng được sinh ra trong một bọc, nên con người suốt bao thế kỷ luôn thân thiết, ruột ra như vậy.

Nhờ giá trị văn hóa, nhờ 2 tiếng “đồng bào” mà cha ông ta có thể oai hùng bước qua khỏi 1.000 năm Bắc thuộc bằng một trận đánh lịch sử – chiến thắng quân Nam Hán của Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng (năm 938).

Trận Bạch Đằng này là vũ công cao cả, vang dội đến nghìn thu, há phải chỉ lừng lẫy ở một thời bấy giờ mà thôi” (Việt sử tiêu án).

Suốt 1.000 năm, tức 1/4 chiều dài lịch sử của dân tộc trong cảnh “đêm trường trung cổ”, mà văn hóa và tinh thần đoàn kết của dân tộc không hề phai nhạt. Giá trị tinh thần yêu nước, tinh thần dân tộc, đoàn kết, cơ chế làng xã bền chặt… Đã cho thấy, cha ông ta giành được thắng lợi chống đồng hóa không phải bằng vũ trang, mà chính là bằng tài trí.

Chiến thắng Bạch Đằng năm 983, mở ra kỷ nguyên mới cho lịch sử dân tộc Việt Nam – kỷ nguyên phá triển một quốc gia phong kiến độc lập, bước vào giao đoạn xây dựng và bảo vệ nền độc lập đó. Dưới các triều đại Ngô (938-965), Đinh (969-979), Tiền Lê (980-1009) nhà nước trung ương tập quyền được thiết lập.

Tiếp theo đó là một kỷ nguyên văn minh của Đại Việt, của nét văn hóa Thăng Long, thời đại “phá Tống, bình Chiêm” , diệt Nguyên, đuổi Minh… một kỷ nguyên rực rỡ của các triều đại Lý (1009-1226), Trần (1226-1400), Hồ (1400-1407), Lê Sơ (1428-1527). Đại Việt dưới thời Lý, Trần và Lê Sơ được biết đến như một quốc gia thịnh vượng bậc nhất ở Châu Á.

Trong giai đoạn đó, chữ Nôm – chữ viết riêng của người Việt đã được cải biến và Việt Hóa dựa trên chữ Hán. Các lĩnh vực về giáo dục, khoa học – kỹ thuật, văn học – nghệ thuật, lịch sử, pháp luật… đều phát triển. Trong đó phai kể đến Văn Miếu – Quốc Tử Giám được xem như trường “đại học” đầu tiên của Việt Nam; Bộ luật Hồng Đức; Đại Việt Sử ký, Đại Việt Sử ký toàn thư…

Đọc lại áng văn “Chiếu dời đô” của Lý Công Uẩn; bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên “Nam Quố Sơn Hà” của Lý Thường Kiệt; bản hùng văn bất hủ “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn; “Cáo Bình ngô” của Nguyễn Trãi;… đầy khẩu khí. Đã cho chúng ta thấy sáng ngời nhân cách và hành động vì dân, vì nước của cha ông. Giúp cho thế hệ về sau hiểu rõ vai trò của những bậc quân minh, anh hùng đã góp công to lớn vào trường kỳ phát triển của dân tộc.

Mỗi tấc đất hôm nay, dù ở đất liền hay hải đảo, miền ngược hay vùng xuôi, biên giới hay vùng biển… thì đều được đánh đổi bằng cả “núi xương, sông máu” và mồ hôi của các thế hệ Việt Nam. Vì thế, bổn phận “cùng nhau giữ lấy nước” đều in hằn trong mỗi chúng ta, đó không chỉ là bổn phận, là trách nhiệm, nghĩa vụ, mà đó còn là tình cảm, sự đoàn kết và sự thiêng liêng của bất kỳ ai mang trong mình dòng máu Lạc Hồng.

Vì lẽ đương nhiên và tất yếu đó. Vậy nên, đến thời đại Hồ Chí Minh, tinh thần và quyết tâm bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ nền độc lập, thống nhất và toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ đó lại được gói gọn trong một câu nói trước ngày Tổng khởi nghĩa (tháng 8/1945). Bác nói: “… Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn, cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập!”.

Vì nhiệm vụ giữ nước, của thế hệ mình những con người trong thời đại Hồ Chí Minh đã toàn tâm, toàn lực phục vụ công cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, nhằm giữ sự tự do và hạnh phúc cho nhân dân.

Thời đại này, truyền thống văn hóa dân tộc từ thưở Hùng Vương đến thời đại Hồ Chí Minh, đã được kết tinh thành một khái niệm mới – Chủ nghĩa yêu nước. Đem đến cho Việt Nam “có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.

Dù cho 2 miền Nam – Bắc có bị chia cắt, cuộc kháng chiến chống Mỹ có ác liệt, thì người dân miền Nam khi đó vẫn luôn khói hương những đền thờ Hùng Vương vào ngày Quốc giỗ. “Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba”, không ai trong những con người khi đó đã quên rằng mình là người Việt.

Ngày 30/04/1975 – dấu mốc đoàn kết và thống nhất đất nước, non sông Việt Nam quy về một mối

Chính vì có chung một ngày Quốc giỗ là nơi khởi nguồn cho sự thống nhất từ máu huyết, từ tâm linh, từ vô thức, thành thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ vào ngày 30/04/1975.

Đại thắng mùa xuân năm 1975 và đỉnh cao là chiến thắng 30/04/1975, là mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc. Là một phần của hành trình từ dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Đó mãi mãi là lịch sử vẻ vang, là thắng lợi của toàn thể nhân dân 2 miền. Hướng đến một kỷ nguyên độc lập, hòa bình, thống nhất đất nước.