Tăng lương công chức chỉ là điều kiện cần, tinh giản biên chế mới là điều kiện đủ

Thứ Sáu, 11.05.2018, 15:41

Hội nghị Trung ương lần thứ 7, Khóa XII đã thảo luận về Đề án “Cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong các doanh nghiệp”. Đề án đã có những điểm mới, đột phá, nhưng muốn thành công phải thực hiện hiệu quả ngay việc cải cách thu chi ngân sách, tinh gọn bộ máy nhà nước để tạo nguồn phát triển bền vững cho Đề án.

Chính sách tiền lương đáp ứng với điều kiện phát triển giai đoạn mới

Ngày làm việc thứ 2 của Hội nghị Trung ương lần thứ 7, Khóa XII đã tiến hành thảo luận Đề án “Cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong các doanh nghiệp”. Tại đây, các đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã phát biểu ý kiến, trao đổi thẳng thắn với nhau về những nhiệm vụ, giải pháp mà đề án đưa ra, nhằm thực hiện triệt để và toàn diện chính sách tiền lương.

Hội nghị Trung ương 7, Khóa XII đã có những đề án quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước trong tình hình hiện nay

Chính sách tiền lương là một bộ phận đặc biệt quan trọng, có quan hệ chặt chẽ với các chính sách khác trong hệ thống chính sách kinh tế – xã hội đất nước, tiền lương liên quan trực tiếp tới cân đối vĩ mô, thị trường lao động và người hưởng lương.

Chính sách tiền lương ở Việt Nam tính đến nay đã trải qua 4 lần cải cách (năm 1960, năm 1985, năm 1993 và năm 2003). Bên cạnh những kết quả đạt được, thì trên thực tế thì vẫn còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn, đời sống của đa số người hưởng lương còn khó khăn; tiền lương trong khu vực doanh nghiệp vẫn chưa theo kịp sự phát triển của thị trường lao động; tiền lương trong khu vực công vẫn còn thấp so với khu vực doanh nghiệp và yêu cầu phát triển của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; việc điều chỉnh lương hưu và trợ cấp ưu đãi đối với người có công; các chế độ ngoài lương còn chậm.

Song hành với cải cách chính sách tiền lương trong những năm qua là 16 lần tăng của lương cơ sở. Từ tháng 12/1993 đến nay, mức lương cơ sở đã điều chỉnh 16 lần, từ 120 nghìn đồng lên 1,39 triệu đồng/tháng vào năm 2018, tăng gần 11,6 lần, trong khi chỉ số giá tiêu dùng tăng khoảng 5,9 lần.

Riêng giai đoạn từ 2003 đến nay là thời gian có nhiều lần điều chỉnh tăng mức lương cơ bản nhất, với 11 lần từ mức lương chung từ 210.000 đồng lên 1.300.000 đồng/tháng (tăng 519%, cao hơn mức tăng chỉ số giá tiêu dùng cùng kỳ là 208,58%).

Vì vậy, mục tiêu tổng thể của Đề án cải cách tiền lương lần này là xây dựng hệ thống chính sách tiền lương quốc gia khoa học, hiện đại, minh bạch, hiệu quả và phù hợp với tình hình thực tiễn của đất nước. Đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo động lực giải phóng sức sản xuất, nâng cao năng suất lao động, chất lượng nhân lực. Góp phần xây dựng hệ thống chính trị ổn định, thống nhất, liên tục, tinh gọn, trong sạch và hướng tới sự công bằng xã hội, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập quốc tế.

Nguyên nhất bại của chính sách tiền lương trước đây từ sự phình to của bộ máy nhà nước

Trả lời trên về việc chính sách tiền lương xuất hiện từ năm 1953, qua hơn 60 năm chính sách đã đi qua 4 lần cải cách những hoàn toàn thất bại, Thứ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội – Doãn Mậu Diệp cho rằng có 2 nguyên nhân chính dẫn đến sự thất bại của những lần cải cách tiền lương trước đây.

Thứ nhất, vấn đề cải cách tiền lương đã không đi kèm với việc tinh gọn bộ máy và hiệu quả của bộ máy quản lý nhà nước. Trong khi cải cách tiền lương được đưa ra, nhưng số lượng biên chế không những không giảm mà còn phình to ra. Biên chế liên tục tăng trong bối cảnh ngân sách hạn hẹp, nên dẫn đến tình trạng lương trung bình phải chia nhỏ dần nên rất khó để thực hiện cải cách.

Thứ hai đó là vấn đề về nguồn tiền để cải cách, ngân sách trung ương và ngân sách địa phương hiện nay có quá nhiều việc phải chi, không có nhiều nguồn tiền để chi cho cải cách. Đặc biệt tình trạng thua lỗ của các doanh nghiệp nhà nước trong thời gian qua đã làm thất thoát một lượng lớn ngân sách và tạo áp lực lên gánh nặng nợ công của Việt Nam.

Báo cáo của Bộ Nội vụ cho thấy có 1% công chức không hoàn thành nhiệm vụ

Nhìn trên thực tế thì tình trạng vượt biên chế vẫn xảy ra ở các bộ ngành, cơ quan nhà nước các cấp ở nước ta.

Hồi cuối năm 2015, Viện Nghiên cứu kinh tế và chính sách (VEPR) đã báo cáo một nghiên cứu tập trung vào vấn đề chi phí kinh tế, cho các tổ chức quần chúng công ở Việt Nam. Tổ chức quần chúng mà VEPR đề cập bao gồm Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên, Công đoàn, và Hội Cựu chiến binh, cùng 28 hội đặc thù khác.

Kết quả đã cho thấy, chi phí cho hệ thống các tổ chức này hoạt động hằng năm dao động từ 45,6 – 68,1 nghìn tỷ đồng, trong đó chi ngân sách nhà nước ước vào khoảng 14 nghìn tỷ đồng.

Ở cấp địa phương, việc chi thường xuyên của các tổ chức quần chúng công lên đến 90% tổng chi và chỉ có 10% trong số đó là chi cho các hoạt động thực tế. Điều này đã cho thấy việc hoạt động của những tổ chức này đã không đạt hiệu quả cao.

Về câu chuyện tinh giản biên chế ở Việt Nam, một thực tế đã được đặt ra trong nhiều năm qua, tất cả đều hướng tới mục tiêu chung là tinh giản biên chế. Tinh giản biên chế để giảm sự cồng kềnh và hoạt động kém hiệu quả của Bộ máy nhà nước. Thế nhưng trong khi cả dư luận luôn hướng sự quan tâm và cơ quan chức năng liên tục nói về vấn đề này, thì trên thực tế tình trạng này lại diễn ra theo chiều hướng ngược lại.

Nghị quyết số 39-NQ/TW (ngày 17-4-2015) của Bộ Chính trị, mỗi năm ta phải tinh giản 70.000 người. Sau 2 năm thực hiện tinh giảm biên chế, số người hưởng lương, phụ cấp lẽ ra phải tinh giảm là 140.000 người. Nhưng không những không tinh giảm mà số lượng biên chế còn tăng lên 96.000 người. Đây được xem là một mâu thuẫn lớn.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm Trung tâm hành chính công TP.Uông Bí và đánh giá cao mô hình tinh giản biên chế của tỉnh Quảng Ninh

Theo báo cáo và giải trình việc thực hiện chính sách, pháp luật về cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước giai đoạn 2011 – 2016 trước đoàn giám sát của Quốc hội. Từ năm 2011 – 2015 chi thường xuyên chiếm 65% tổng chi ngân sách nhà nước, tăng 2,2 lần so với 5 năm trước.

Đơn cử, năm 2014 chi 704.000 tỷ đồng, năm 2015 chi 777.000 tỷ đồng (tăng 10,3% so với năm 2014), năm 2016 chi 837.000 tỷ đồng (tăng 1,7% so với năm 2015), dự toán chi năm 2017 là 900.000 tỷ đồng. Trong tổng số chi thường xuyên này, việc chi cho lương và phụ cấp khác chiếm 53%.

Đáng lưu ý nhất, đó là giữa năm 2017, có 20/22 Bộ, ngành đã gửi hồ sơ về Bộ Nội vụ xin thẩm định đề xuất tăng biên chế. Chỉ có 2 Bộ xin giảm biên chế là Bộ Công thương và Bộ Nội vụ, trong đó Bộ Công thương xin giảm hẳn một Tổng cục xuống thành Cục.

Hiện nay, cả nước có 42 tổng cục (tăng gấp 2 lần so với năm 2011); có 826 cục và vụ thuộc các tổng cục (tăng 4,7%); có 7.280 phòng thuộc tổng cục (tăng 4,7%); 750 vụ cục và tương đương thuộc bộ (tăng 13,6%) và 3.970 phòng trực thuộc bộ (tăng 13%).

Những số liệu này chưa bao gồm số biên chế của quân đội và công an. Tính riêng cơ quan giúp việc của Trung ương cũng đã tăng 23 đầu mối, tăng 21,9%, 40 đầu mối làm việc cấp vụ, tăng 21% và đầu mối cấp phòng cũng tăng 37,4%.

Còn về ở bộ máy cấp địa phương , trong số 63 tỉnh thành thì có 11 địa phương không những không giảm mà còn sử dụng vượt biên chế so với số biên chế mà đã được Bộ Nội vụ giao, số lượng biên chế vượt quá mức lên tới 7.951 biên chế.

Nếu tính đến ngày 1/3/2017, thì số người hưởng lương và phụ cấp ngân sách Nhà nước có khoảng 4 triệu người (chưa bao gồm quân đội và công an). Số công chức ở Trung ương là 279.143 người; cấp tỉnh, huyện là 2.080.000 người và cấp xã,thôn, tổ dân phố là 1.266.000 người.

Số lượng biên chế liên tục tăng, mà chính sách tiền lương lại muốn sẽ cải cách để mang lại hiệu quả thì đây là một việc hết sức khó khăn. Cải cách, đổi mới, nâng cao năng lực, hiệu quả của các đơn vị sự nghiệp công lập để giảm tối đa số lượng biên chế, không những tinh gọn mà còn đáp ứng được đối với đời sống công chức hiện nay.

Khi tinh giảm được bộ máy hành chính nhà nước, bộ máy chính trị theo đúng quan điểm, đường lối của Nghị quyết số 18-NQ/TƯ Hội nghị lần thứ sáu, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”. Thì việc tiếp tục thực hiện đề án “Cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong các doanh nghiệp”, sẽ đạt được nhiều kết quả tốt đẹp, là đòn bẩy thúc đẩy năng suất lao động của cán bộ công chức, từ đó nâng cao được hiệu suất phục vụ nhân dân.