“ODA” thực chất đối với Việt Nam như thế nào?

Thứ Tư, 02.05.2018, 10:31

ODA đóng góp đến đâu, thất thoát thế nào, có những dự án vừa làm xong đã lạc hậu, sản phẩm không thể cạnh tranh, vốn ưu đãi biến thành nợ xấu, có vấn đề gì ở đằng sau đó… Đây là dịp để chúng ta chủ yếu nhìn lại mình và cần phải nhìn nhận khách quan.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư yêu cầu các Bộ, Cơ quan ngang Bộ, địa phương đánh giá về nguồn vốn ODA

Mới đây, Bộ Kế hoạch và Đầu tư vừa có văn bản gửi các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; UBND các tỉnh, thành trực thuộc Trung ương, Ngân hang Phát triển Việt Nam, Ngân hàng NN-PTNT, các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước đề nghị báo cáo đánh giá hiệu quả, tác động của các dự án sử dụng vốn vay ODA và vốn vay ưu đãi giai đoạn 1993-2017. Việc đánh giá bao gồm các chương trình, dự án sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi đã kết thúc và đang triển khai.

Việt Nam nhận vốn ODA từ những năm 70, thời gian nhận nhiều ODA bắt đầu từ năm 1993 đến nay (24 năm), ODA bình quân đầu người năm 2000 là 22 USD và tăng lên 46 USD năm 2014. Đến nay, Việt Nam gần như kết thúc việc vay ODA giá rẻ của các tổ chức quốc tế, các quốc gia trên thế giới, do đó việc nhìn nhận, đánh giá lại hiệu quả, tác động của vốn ODA và quá trình sử dụng ODA là việc làm rất quan trọng và cần thiết.

Theo danh mục tổng hợp, từ năm 1993 đến ngày 31/12/2017, cả nước có khoảng 2.591 chương trình, dự án vay vốn ODA, vay vốn ưu đãi. Trong đó, các bộ, ngành có khoảng 1.279 dự án, chương trình, các địa phương có khoảng 1.197 dự án, còn lại là của các ngân hàng, Đài truyền hình Việt Nam…

Thực tiễn chứng minh, nhiều chương trình, công trình, dự án trọng điểm quốc gia từ nguồn vốn ODA đã hoàn thành, đi vào khai thác phục vụ đời sống của người dân, góp phần phát triển kinh tế như: Cao tốc Nội Bài – Lào Cai, cao tốc TP HCM – Long Thành – Dầu Giây, cầu Vĩnh Thịnh, cầu Nhật Tân, đường nối Nhật Tân – Nội Bài, nhà ga T2 Nội Bài và nhiều công trình khác cũng được hoàn thành và được đưa vào sử dụng góp phần hoàn thiện, hiện đại hóa hạ tầng kinh tế xã hội, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Tuy nhiên, thực tế sử dụng nguồn vốn ODA đã phát sinh nhiều bất cập, thậm chí để thất thoát, lãng phí và tham nhũng đã ảnh hưởng đến chất lượng công trình, làm mất uy tín của Việt Nam. Thế nên dư luận, lẫn các nhà khoa học, chuyên gia vẫn băn khoăn về việc sử dụng hiệu quả nguồn vốn đã thật sự hiệu quả hay chưa? Câu hỏi này vẫn là một “bài toán” không dễ tìm được đáp án.

Người ta hẳn không thể quên được việc Nhật Bản năm 2009 đã bắt Tổng giám đốc Công ty tư vấn Thái Bình Dương, PCI vì tội hối lộ quan chức ở nước ngoài để thắng thầu. Kéo theo đó là ông Huỳnh Ngọc Sỹ, lúc đó là Phó Giám đốc Sở GTVT TP HCM, Trưởng ban quản lý dự án Đại lộ Đông – Tây (nay là đại lộ Võ Văn Kiệt) TP.HCM, và ông Lê Quả cũng bị phía Việt Nam bắt giam, khởi tố vì tội “lợi dụng chức vụ, quyền hạn khi thi hành công vụ”.

Cho đến, những lùm xùm, chậm trễ trong dự án ODA của Trung Quốc cho dự án đường sắt trên cao Cát Linh – Hà Đông khiến cho những công trình “giá rẻ” thực sự rất… đắt. Bởi cái giá phải trả không chỉ là đội vốn, mà còn là thời gian kéo dài, tác động kinh tế, xã hội tiêu cực tới thủ đô nói chung và những nhóm cư dân xung quanh dự án nói riêng.

Theo bà Lê Thị Nga – Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội: “Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là hành lang pháp lý quản lý, sử dụng vốn ODA chỉ bị điều chỉnh ở cấp độ nghị định và quy định của nhà tài trợ. Các quy định này còn phức tạp, phân tán, hiệu lực pháp lý thấp. Việc đảm bảo công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong các văn bản hiện hành chỉ mang tính nguyên tắc, chưa được cụ thể hóa hết vào quy trình quản lý, sử dụng ODA, dẫn đến chưa ngăn chặn được tình trạng xin, cho, “cò dự án”, tiêu cực, tham nhũng”.

Có thể nói, ODA được xác định là giải pháp cho các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, nhưng chỉ trong điều kiện nguồn vốn này được sử dụng hiệu quả trên nền tảng cơ chế công khai, minh bạch. Nên, việc quan trọng trước mắt vẫn là phải sử dụng hết và hiệu quả 22 tỷ USD nguồn vốn đã có sẵn mà không bị “nghẽn”.

Được biết, số vốn ODA được huy động từ các năm trước vẫn chưa được giải ngân vào khoảng 22 tỷ USD, trong đó phần lớn là những dự án đầu tư của nhóm 6 ngân hàng phát triển với các khoản vay ưu đãi. Do vậy, Chính phủ cũng xác định nhiệm vụ trọng tâm trong giai đoạn này là hoàn thành thực hiện cam kết giải ngân các chương trình dự án theo đúng tiến độ của các điều ước quốc tế và thỏa thuận tài trợ đã ký kết.

Việt Nam muốn thành “con rồng châu Á” thì cần phải đi lên từ nội lực, thay vì phụ thuộc lớn vào nguồn ODA

Trong bối cảnh, WB và ADB chấm dứt vốn vay ưu đãi với Việt Nam, chuyển chủ yếu sang sử dụng nguồn vay kém ưu đãi và tiến tới vay theo điều kiện thị trường. Trong khi nền tài chính công của Việt Nam còn tương đối yếu – bao gồm nợ công tương đối cao và đang gia tăng – và khu vực ngân hàng dễ bị tổn thương, dự báo sẽ gia tăng thêm nhiều tín hiệu xấu. Điều này góp phần vào việc xếp hạng rủi ro của Việt Nam cho trung và dài hạn vẫn ở mức cao hơn so với ngắn hạn.

Đã đến lúc Việt Nam cần đặt ra kế hoạch “tốt nghiệp ODA” trong khoảng 15-20 năm tới. Điều này có nghĩa là, ngay từ bây giờ, Việt Nam phải giảm dần nguồn ODA và phấn đấu ODA trên đầu người tiến tới bằng 0 vào giữa những năm 30 của thế kỷ XXI.

Đúng như một chuyên gia kinh tế từng nhận định rằng: “Còn một quãng đường rất dài để Việt Nam có thể trở thành “con hổ châu Á”, tuy nhiên, hãy để đất nước là một con hổ tự vươn mình bằng những năng lực nội tại, chứ không phải bằng việc dựa dẫm vào bất kì một nguồn lực nào từ bên ngoài”.

Chính vì vậy, đánh giá các dự án để rút ra cái ưu, cái nhược, cái được, cái mất, để từ đó nhìn ra hiệu quả của vốn ODA thực chất đối với chúng ta như thế nào: ODA là quả ngọt hay trái đắng? Có như thế mới rút ra bài học, định hướng hiệu quả nhất cho nền kinh tế trong thời gian tiếp theo.

Từ khóa: