BBT

Nơi lưu trữ những bài viết của các Ban Biên Tập, các bài viết được chọn lựa kỹ càng được lấy từ các nguồn tin đáng tin cậy

Nhiệt điện than: Thế giới giảm, Việt Nam vẫn nóng

Thứ Ba, 03.07.2018, 14:44

Trong khi xu hướng giảm các dự án điện than đang ưu thắng trên thế giới thì Đông Nam Á đang chiếm tới 42% các dự án đang triển khai.

Đó là ý kiến được ông Rainer Brohm – Công ty tư vấn RB Berlin Hà Nội cho biết tại Hội thảo “Phát triển năng lượng gắn với bảo vệ môi trường vì phát triển bền vững ở Việt Nam”, ngày 5/6, do Liên hiệp các Hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Trung tâm Phát triển sáng tạo xanh (GreenID) tổ chức.

Thế giới xóa bỏ dần các nhà máy nhiệt điện than

Đưa ra ý kiến rõ hơn, ông Rainer Brohm nói: “Xu thế toàn cầu phát triển điện than trên toàn thế giới đang ngày càng giảm, cụ thể chỉ có 73% các dự án được khởi công, 176% các dự án bị hoãn, chủ yếu do sự thay đổi về các chính sách và điều kiện kinh tế của Trung Quốc và Ấn Độ.

Cụ thể, tại Trung Quốc, các chính sách kiểm soát của Chính phủ ngày càng thắt chặt hơn và các nhà máy điện than hiện tại đã vượt xa nhu cầu trong nước.

Còn tại Ấn Độ, phát triển điện than bị chậm lại do sự ngần ngại của các Ngân hàng và các đơn vị tài chính (dư thừa điện than với cuộc cách mạng năng lượng mặt trời sẽ tạo ra nhiều khoản đầu tư năng lượng tái tạo hơn so với nhiệt điện trong năm 2016/2017).

Theo thống kê của GlobalCoal Power Retirements 200-2017, hàng loạt nhà máy công suất điện than 97GW đã đóng cửa trong 3 năm qua (2015-2017), chủ yếu ở EU, Mỹ và các nước OECD khác.

Nhiet dien than: The gioi giam, Viet Nam van nong Trong khi thế giới xóa bỏ nhà máy nhiệt điện than thì Việt Nam vẫn đang trên đà mở rộng

Nếu xu thế này tiếp diễn, đến năm 2022 công suất điện than đóng cửa hằng năm sẽ nhiều hơn công suất điện than thêm mới, dẫn đi tổng công suất điện than toàn cầu co lại. Khoảng 290GW đã quá tuổi thọ 39 năm, 315GW khác sẽ chạm ngưỡng tuổi thọ vào năm 2030″.

Trong khi xu hướng trên thế giới là giảm các dự án điện than thì Đông Nam Á đang đi ngược lại xu thế chung. Có đến 42% các dự án đang triển khai tại khu vực này.

Để bắt kịp nhịp phát triển chung, theo ông Rainer Brohm, thời gian tới, khu vực Đông Nam Á sẽ cần đầu tư 290 tỷ USD vào năng lượng tái tạo trong thập kỷ tới. Ngành điện sẽ chiếm 75% nhu cầu đầu tư trung bình hàng năm là 27 tỷ USD. Indonesia, Việt Nam và Thái Lan sẽ chiếm 2/3 tổng nhu cầu đầu tư của ASEAN cho năng lực tái tạo năng lượng, tức 27 tỷ USD đầu tư.

4,5 tỷ USD/năm tại Việt Nam sẽ cần được đầu tư tới năm 2025 để đạt được những mục tiêu của Đông Nam Á. Trong số này, một phần đáng kể chuyển hướng từ đầu tư cho nhiên liệu hóa thạch sang năng lượng tái tạo.

“Năng lượng tái tạo đã đạt đến ngưỡng không còn đường lui, công suất và đầu tư cho năng lượng tái tạo nhanh hơn năng lượng hóa thạch, hạt nhân. Năng lượng tái tạo (Gió và Mặt trời, tích hợp dự trữ trung hạn) đang dần cạnh tranh hơn với các dạng năng lượng hóa thạch ở qui mô thương mại.

Những lợi ích của năng lượng tái tạo (việc làm, chi phí ngoại sinh,….) cao hơn so với chi phí chuyển dịch hệ thống năng lượng. Còn tiềm năng lớn cho việc kết hợp các ngành (điện tái tạo kết hợp cấp nhiệt/năng lượng di động) và dự trữ” – vị chuyên gia phân tích.

5 bản thiết kế cho tương lai năng lượng sạch Việt Nam

Cũng tại Hội thảo, Trung tâm Phát triển Sáng tạo Xanh (GreenID) công bố “Bản Thiết kế cho Tương lai Năng lượng Sạch của Việt Nam”. Bản thiết kế được xây dựng theo hướng có lợi cho sức khỏe, hợp lý về chi phí và đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia.

Theo bà Ngụy Thị Khanh – Giám đốc GreenID, “bản thiết kế cho tương lai năng lượng sạch của Việt Nam” là kết quả từ nghiên cứu “các kịch bản phát triển nguồn điện tại Việt Nam” do chuyên gia của GreenID thực hiện theo hướng có lợi cho sức khỏe, hợp lý về chi phí và đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia.

Nghiên cứu đưa ra 5 kịch bản đáp ứng nhu cầu năng lượng ngày càng tăng cao của Việt Nam với hướng tiếp cận tối ưu hóa chi phí, đồng thời xem xét chi phí ngoại biên từ tác động của ô nhiễm không khí và phát thải các bon. Nghiên cứu chỉ ra rằng sau năm 2020, Việt Nam có khả năng không cần xây dựng nhà máy nhiệt điện than mới mà vẫn duy trì hệ thống năng lượng an toàn với giá cả hợp lý.

Nghiên cứu cũng cho thấy phương án an toàn và chấp nhận được để đáp ứng nhu cầu năng lượng tương lai của Việt Nam, đáp ứng mục tiêu của Thỏa thuận Paris là cắt 30GW điện than. Điều này đồng nghĩa với việc đưa ra khỏi quy hoạch 25 nhà máy điện than mà thay vào đó áp dụng các giải pháp sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, đồng thời tăng tỷ trọng của năng lượng tái tạo.

Bà Ngụy Thị Khanh cho rằng, kịch bản đưa ra sẽ giúp Việt Nam tăng cường an ninh năng lượng do giảm tỷ lệ nhập khẩu than, giảm xây dựng các nhà máy điện mới, giảm áp lực huy động khoảng 60 tỷ USD vốn đầu tư cho những dự án nhiệt điện than này, giảm phát thải khoảng 116 triệu tấn CO2, giảm ô nhiễm không khí và nguồn nước. Đặc biệt, kịch bản này ước tính tránh được khoảng 7.600 ca tử vong sớm hằng năm vào năm 2030.

So với Quy hoạch điện VII điều chỉnh (QHĐ VII ĐC), bản thiết kế này đề xuất đến năm 2030 tăng tỷ trọng năng lượng tái tạo từ khoảng 21% lên khoảng 30%; tăng tỷ trọng nhiệt điện khí từ khoảng 14,7% lên khoảng 22,8%; và giảm tỷ trọng của nhiệt điện than từ khoảng 42,6% xuống còn khoảng 24,4%.

Những lợi ích mà bản thiết kế này mang lại cho Việt Nam gồm: Tăng cường an ninh năng lượng do giảm tỷ lệ nhập khẩu than; tránh được việc phải xây dựng thêm khoảng 30.000 MW nhiệt điện than vào năm 2030, tương đương với khoảng 25 nhà máy điện than; giảm áp lực huy động 60 tỷ đô la Mỹ vốn đầu tư cho những dự án nhiệt điện than này;

Ngoài ra, tránh được việc đốt khoảng 70 triệu tấn than/năm tương ứng với 7 tỷ đô la Mỹ/năm cho việc nhập khẩu than; giảm phát thải khoảng 116 triệu tấn CO2/năm so với QHĐ VII ĐC, đưa Việt Nam theo đúng với mục tiêu của Thỏa thuận Paris; giảm ô nhiễm không khí và nguồn nước.

Ước tính kịch bản này sẽ giúp tránh được khoảng 7600 ca tử vong sớm hàng năm vào năm 2030 so với QHĐ VII ĐC.

Phát biểu tại hội thảo, ông Nghiêm Vũ Khải – Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam cho rằng: “Việc chuyển dịch sang năng lượng xanh là rất quan trọng và cần thiết.

Bởi Việt Nam là một trong số ít các quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi biến đổi khí hậu. Hơn nữa, phát triển xanh là hướng đi thông minh cho Việt Nam, một quốc gia có tiềm năng năng lượng tái tạo dồi dào, đặc biệt là năng lượng mặt trời và năng lượng gió.

Phát triển năng lượng tái tạo cũng là một hướng đi hợp lý để Việt Nam tránh phụ thuộc vào năng lượng nhập khẩu. Tuy nhiên, hiện vẫn còn nhiều thách thức đòi hỏi nỗ lực lớn và bước đi phù hợp của tất cả các bên liên quan để công nghệ năng lượng tái tạo được đi vào thực tế phát triển và áp dụng”.