Nhân dân tệ, tại sao chúng ta phải sợ?

Thứ Hai, 10.09.2018, 14:55

Mới đây, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vừa ra thông tư cho phép sử dụng Nhân dân tệ (NDT hay CNY) trong thanh toán thương mại biên giới Việt – Trung, bắt đầu từ ngày 12/10. Quyết định này đã gây nhiều tranh cãi trong dư luận.

Ngân hàng Nhà nước vừa ra thông tư cho phép lưu hành Nhân dân tệ tại biên giới

Mục đích của thông tư trên, theo lý giải của NHNN, không gì là ngoài việc tạo thuân lợi và thúc đẩy trao đổi thương mại Việt – Trung, đặc biệt tại khu vực biên giới. Ngay cả khi không có quy định này thì từ lâu, hoạt động buôn bán của thương nhân tại những tỉnh sát nách Trung Quốc cũng đã sử dụng song song cả hai đồng tiền – NDT và VNĐ. Tuy nhiên, do sự phức tạp trong quan hệ bang giao cả ngàn năm nay, bên cạnh những mâu thuẫn về mặt lãnh thổ (nhất là chủ quyền trên biển Đông), cho nên rất nhiều quan điểm tiêu cực, thậm chí có đôi chút cực đoan, lại tin rằng đây là động thái để từng bước Hán hóa dân tộc Việt Nam: ban đầu là cho lưu thông NDT, tiến tới lệ thuộc hoàn toàn về kinh tế, sau đó là chính trị, rồi cuối cùng sáp nhập lãnh thổ … Những kịch bản mà theo cá nhân người viết, ngay đến các lãnh đạo chính trị có dã tâm nhất của Trung Quốc, cũng chưa chắc đã nghĩ ra được.

Trước tiên, không thể phủ nhận Trung Quốc đang ngày càng có sức nặng đối với kinh tế thế giới. Năm 2015, IMF đã quyết định đưa NDT trở thành đồng tiền chính trong rổ tiền tệ của quỹ, bên cạnh USD, Euro, Bảng Anh và Yên Nhật. Đích thân bà Christine Lagarde – giám đốc điều hành IMF – khi ấy đã phát biểu: “Quyết định này là sự công nhận về tiến bộ mà chính quyền Trung Quốc đạt được trong những năm qua khi nước này cải cách hệ thống tài chính và tiền tệ.”
Do đó, chúng ta không nhất thiết phải tẩy chay đồng NDT, mà hãy tôn trọng các quy định và thông lệ quốc tế. Điều quan trọng hơn là Việt Nam cần nỗ lực thực hiện cải cách hệ thống tài chính tiền tệ, như vậy mới mong đưa VNĐ lên vị thế của một đồng tiền có giá trị thế giới. Thay vì cấm lưu hành NDT, hãy làm sao để tiền Việt cũng dễ dàng được chấp nhận thành phương tiện thanh toán, không chỉ ở Trung Quốc, mà còn tại nhiều nước khác.

Không ít người Việt đang cảm thấy lo ngại vì đất nước đang ngày càng phụ thuộc vào trao đổi với Trung Quốc; mức thâm hụt mậu dịch hàng năm, theo ước tính có thể lên đến trên 30 tỷ USD. Do vậy, một số đề xuất – không dựa trên phân tích thực tế, mà mang yếu tố cảm tính nhiều hơn – còn đề nghị nên đóng cửa biên giới và ngừng giao thương với Trung Quốc.
Mặc dù không ưa gì Trung Quốc và căm ghét chủ nghĩa Đại Hán bành trướng của họ, nhưng bản thân người viết cảm thấy phương án trên hoàn toàn không khả thi, bởi nếu không buôn bán với Trung Quốc thì các tỉnh biên giới phía Bắc biết làm gì, khi kinh tế ở những nơi này vốn đã chậm phát triển vì công nghiệp thì èo uột, còn du lịch dịch vụ thì cũng chẳng mấy nổi bật…
Chưa kể, rất nhiều nguyên vật liệu được sử dụng trong ngành sản xuất chế tạo của Việt Nam (mà chúng ta chưa có khả năng tự túc) cũng đang được cung cấp từ các nhà máy đặt tại Trung Quốc (mặc dù chúng có thể là do ông chủ Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan, … đầu tư), cho nên miệng kêu gào tẩy chay, nhưng thực tế thì rất khó.

Ngay đến cả Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và các đô thị lớn trên cả nước, không ít thương gia đang làm giàu nhờ ít nhiều liên quan đến yếu tố Trung Quốc, chẳng hạn: nhập hàng về bán (thiết bị điện tử, máy móc công nghiệp, đồ gia dụng, vải vóc, …) Chỉ cần đóng cửa biên giới và ngưng giao dịch trong khoảng 1-2 tháng, chắc chắn rất nhiều tiểu thương, ngay tại thủ đô Hà Nội sẽ lao đao … kéo theo những bất ổn xã hội khác.
Cách đây vài tháng, trên tuyến đường bộ từ Bằng Tường về Lạng Sơn (Việt Nam), một chuyến xe container chở hàng (chủ yếu là iPhone , … ) cho các shop điện thoại tại Hà Nội gặp tai nạn và phát nổ, thiệt hại ước tính lên tới cả trăm tỷ đồng, khiến nhiều tiểu thương mất trắng (bởi không có bảo hiểm san sẻ rủi ro).
Hoạt động buôn bán theo đường “tiểu ngạch” trên, mặc dù sai luật định và cũng không được ủng hộ, nhưng đó là lỗi thuộc về thể chế, chính sách và trách nhiệm của các cơ quan chức năng, chứ không phải của người dân.
Chỉ khi những nhà hoạch định tìm ra giải pháp thúc đẩy nền sản xuất chế tạo trong nước để thay thế hàng nhập khẩu, và tạo điều kiện thông thoáng cho hoạt động giao dịch, thì khi ấy chúng ta mới có thể bàn đến chuyện thoát Trung.

Điều mà người viết cảm thấy quan ngại nhất, có lẽ là ở con số thâm hụt hàng năm mấy chục tỷ USD, trên thực tế không hoàn toàn chảy hết về Trung Quốc, mà ngược lại nằm đó và lưu thông trong nền kinh tế, hệ thống tài chính, tín dụng của Việt Nam, đổ vào các tài sản như đất đai, nhà cửa, hay dự án đầu tư mang danh nghĩa FDI… kéo theo đó là chiến lược cài người trà trộn cho mục đích gián điệp, tình báo …
Bởi vậy, mối lo sợ Trung Quốc đang tìm cách từng bước thôn tính Việt Nam bằng kinh tế, cũng không hẳn là không có cơ sở, và khi nghe nói Dự luật đặc khu có quy định cho người nước ngoài mua đất với thời hạn sở hữu lên đến 99 năm, không ít người đã nhao nhao phản đối, rằng như vậy là để hợp thức hóa việc bán đất cho Trung Quốc.
Trên thực tế, không chỉ Việt Nam, mà cả thế giới, bao gồm các nước phát triển như Mỹ, Canada, Úc, … cũng đang phải đương đầu với vấn nạn này. Trong hơn một thập kỷ qua, người Trung Quốc đã vung tiền mua rất nhiều bất động sản tại Vancouver (Canada), Sydney hay Melbourn (Úc), và ngay cả những khu chung cư quanh Đại học Harvard (Boston, Mỹ) … cho con cái họ sang học và tìm đường kéo theo cả gia đình.
Tuy nhiên, vỏ quýt dày có móng tay nhọn, thứ khiến Mỹ và các đồng minh phương Tây không phải sợ Trung Quốc, đó là họ đã xây dựng được những thể chế dân chủ và bản sắc văn hóa đủ vững chắc để có thể đề kháng lại sức ảnh hưởng của người Hoa … biến những di dân (vốn là tình hoa của Trung Quốc) phải “nhập gia tùy tục”, trở thành một phần và đóng góp cho sự phát triển của vùng đất mới.
Thời xưa tại miền Nam Việt Nam, chính quyền Ngô Đình Diệm cũng có những phương án rất hiệu quả trong việc quản lý và tận dụng tiềm lực kinh tế của người Hoa (như bắt tất cả Hoa Kiều phải đổi sang quốc tịch Việt Nam, nếu không trục xuất về nước hoặc cho sang Đài Loan sống theo chính sách của Tưởng Giới Thạch, quy định những lĩnh vực người Hoa không được phép độc quyền, và bắt Hoa Kiều cũng phải đi lính, …)

Người Trung Quốc thậm chí cũng đang tìm cách mua cả Úc và Canada

Thiết nghĩ, trước những ảnh hưởng đang lên mang yếu tố Trung Quốc, người Việt Nam chúng ta cần thiết phải thay đổi tư duy, hãy cởi mở, dung nạp thay vì đóng kín và bài xích. Đối với bất cứ mối đe dọa nào, chúng ta hãy dũng cảm đương đầu và nỗ lực tìm giải pháp, chứ đừng hành xử theo lối “cứ phản đối trước đã” – càng làm vậy càng cho thấy sự nhược tiểu của chúng ta, ngay từ trong chính nhận thức.
Sau cùng, trong quá trình hội nhập, để không bị hòa tan thì chúng ta cần tạo được cho mình sức đề kháng mạnh mẽ nhờ thể chế chính trị, kinh tế và bản sắc văn hóa – những thứ thuộc về sức mạnh mềm – vượt trội hơn hẳn Trung Quốc.