Nhà hát lớn TP. HCM: Làm sao để tránh đại thảm họa quy hoạch?

Thứ Tư, 10.10.2018, 15:27

Chính quyền TP. HCM vừa thông qua một đề xuất gây nhiều tranh cãi – xây dựng nhà hát giao hưởng mới với kinh phí hơn 1.500 tỷ VNĐ tại khu đô thị Thủ Thiêm, với lý do là để phục vụ nhu cầu thiết yếu của người dân.

TP. HCM vừa thông qua đề xuất xây dựng nhà hát giao hưởng trị giá 1500 tỷ VNĐ

Hiện nay, mặc dù là đô thị, trung tâm kinh tế – văn hóa – giáo dục lớn nhất của cả nước, nhưng TP. HCM vẫn chưa thực sự có nhà hát giao hưởng theo đúng tiêu chuẩn, bởi 3 công trình vốn được xây dựng từ thời Pháp thuộc là Nhà hát Opera (nay là Nhà hát thành phố), Nhà hát Phiharmonie (nay là Kho bạc thành phố) và Nhạc viện thành phố … đều chỉ có quy mô nhỏ và đã xuống cấp theo thời gian. Vì thế, kế hoạch xây dựng nhà hát mới không phải là không cần thiết, nhưng nên được đem ra thảo luận, phân tích kỹ lưỡng và lấy ý kiến cử tri tại Hội đồng Nhân dân, đặc biệt là khi TP. HCM hiện đang đi đầu trong những nỗ lực xin cơ chế cởi mở để xây dựng chính quyền đô thị.

Ngoài ra, 1.500 tỷ VNĐ cũng là con số không nhỏ, hoàn toàn có thể làm được rất nhiều việc nếu được sử dụng đúng mục đích. Trong bối cảnh TP. HCM đang gặp nhiều khó khăn vì thiếu hụt ngân sách đầu tư cho cơ sở hạ tầng và cải thiện các dịch vụ dân sinh, thì việc chi tiêu lại càng không thể “tùy tiện”. Thế giới đã có quá nhiều bài học nhẵn tiền, về tính bất hợp lý trong công tác hoạch định (planning) của những dự án xa xỉ mà chúng ta không thể không tham khảo. Lấy ví dụ, ngoại trừ sân vận động Tổ Chim ở thủ đô Bắc Kinh thỉnh thoảng còn được sử dụng, hầu hết các công trình mà Trung Quốc xây dựng (tốn kém hàng chục tỷ USD) để chuẩn bị cho Thế Vân hội mùa hè 2008 đều đang bị bỏ hoang.

Năm 1980, nhà đô thị học người Anh, giáo sư Peter Hall (1932 – 2014) giảng dạy tại Đại học University College London, đã xuất bản cuốn sách mang tên Great Planning Disasters (Đại thảm họa quy hoạch), mổ xẻ và phân tích trường hợp của một số dự án lớn, phần lớn được thực hiện trong thập niên 1970 tại nhiều nơi trên thế giới, bao gồm nhà hát Sydney Opera House (Úc), sân bay thứ ba của London (kỳ vọng giảm tải cho Heathrow và Gatwick), máy bay siêu thanh Concorde (hợp tác Anh – Pháp), và Hệ thống giao thông nhanh (Bay Area Rapid Transit hay BART) vùng Vịnh San Francisco (Mỹ), … Bằng những kiến giải sâu sắc, Hall đã dẫn dắt người đọc tự đi tìm lời giải cho những câu hỏi, chẳng hạn như: Tại sao những dự án như vậy lại được theo đuổi ngay từ đầu? Do đâu mà chúng thất bại? Và Chúng ta có thể học được gì cho tương lai? …

Nhìn chung, quy mô của dự án càng lớn thì sai sót lại càng dễ xảy ra, thậm chí có thể trở thành “thảm họa”, bởi rất khó hoặc không thể sửa chữa, khắc phục hậu quả, ngay cả khi chúng được thực hiện vì mục đích tốt. Như trong những ví dụ mà Hall trích dẫn, hầu hết các bản kế hoạch đều được lấy cảm hứng vì lợi ích công cộng, tức có rất ít động cơ cho hành vi tư lợi, bên cạnh những nhu cầu về hợp tác công tư trong quá trình hoạch định lẫn thực hiện do quy mô và phạm vi ảnh hưởng quá lớn. Khi phân tích hoàn cảnh và cách thức mà những người ủng hộ dự các án đã làm phát sinh “thảm họa”, Hall xác định có hai nguyên nhân chính: do đánh giá quá cao nhu cầu và quá thấp về chi phí. Mặc dù không dự án nào hoàn toàn giống nhau, nhưng tất cả cùng có chung một mẫu số thất bại liên quan đến sự yếu kém trong công tác lập kế hoạch tài chính, nghiên cứu được thực hiện không đầy đủ, và cái tôi quá lớn của người nắm quyền … dẫn đến học phí phải trả lên tới cả trăm triệu hay hàng tỷ USD (thời giá của thập niên 1970, lớn gấp nhiều lần hiện nay).

Trong trường hợp của nhà hát Sydney Opera House, khi lập kế hoạch, chính quyền tiểu bang New South Wales đã không thể ước tính chính xác được chi phí do sự chủ quan của kiến trúc sư chính, dẫn tới việc phải thuê nhà tư vấn mới, khiến công trình bị chậm tiến độ gần 10 năm và đội vốn hơn 80 triệu đô la Úc (gần bằng 700 triệu hiện nay). Ngoài ra, cả sân bay thứ ba của London, máy bay Concorde hay BART San Francisco, … cũng đều gặp phải những vấn đề tương tự, dẫn tới thua lỗ, phải hủy bỏ hay phá sản. Như Hall chỉ ra, mức chi phí của những dự án trên đều đã bị đánh giá quá thấp, do sự thiếu hiểu biết về thị trường, hay bởi một thực tế đơn giản là các nghiên cứu tiền khả thi đã không được tiến hành nghiêm túc. Tuy nhiên, phần lớn những người phải chịu trách nhiệm, khi được yêu cầu giải trình về hóa đơn “gây sốc” đều đã không thể nói gì nhiều ngoài “chúng tôi không biết” hay tệ hơn là “chúng tôi không quan tâm”.

Nhà hát Opera House tại Sydney nổi tiếng vì kiến trúc đặc biệt hình con sò, hay những múi cam xếp lên nhau … Nhưng ít ai để ý công trình đã gặp rất nhiều gian nan trong quá trình xây dựng

Để chữa trị căn bệnh trầm kha này, và cũng để có những dự án hoàn hảo hơn trong tương lai, theo Hall, đáng tiếc chúng ta lại không có bất cứ một công thức thần diệu này. Thay vào đó, hãy nhìn vào những bài học thất bại để lấy làm động lực hay phương tiện giúp cải thiện và định hướng lại công tác hoạch định. Người làm chính sách nhất thiết phải nắm vững các lý thuyết về lập kế hoạch trong dài hạn, nhất là đối với những dự án tiềm ẩn nhiều rủi ro, bên cạnh đòi hỏi phải tham khảo các nghiên cứu trong quá khứ lẫn chú ý đến những xu hướng của hiện đại. Thứ nữa, những nghiên cứu và dự báo phục vụ cho quá trình hoạch định lại càng cần phải đáp ứng được yêu cầu, cả về lượng (quantitative) lẫn chất (qualitative), để có thể dễ dàng điều chỉnh, nhất là trước những biến động (như thay đổi lãnh đạo, chủ đầu tư, nhà thầu, tư vấn …) Quan trọng hơn, theo đề xuất của Hall, đó là chúng ta nên tìm cách thiết lập những cơ chế mang tính kiểm soát – cân bằng (check and balance) trong hệ thống hoạch định, để không một cơ quan hay nhóm quyền lực nào có thể thao túng.

Sau cùng, vì bản chất của hoạch định là song hành và không thể tách rời khỏi chính trị, cho nên “nếu người làm hoạch định bỏ qua các hành vi chính trị, quyết định của họ có thể sẽ trở nên không thực tế”. Do đó, trong trường hợp của nhà hát giao hưởng nghìn tỷ tại TP. Hồ Chí Minh, chính quyền ở đây cần tính đến tác động của các yếu tố chính trị vào phương án dự báo và phòng ngừa rủi ro, hay chí ít cũng nên thực hiện một cuộc trưng cầu dân ý.