Nghĩ về Thiên An Môn để soi lại mình

Thứ Ba, 05.06.2018, 14:36

Đã 29 năm trôi qua nhưng vụ thảm sát ngày 4/6/1989 tại Quảng trường Thiên An Môn (Bắc Kinh) vẫn sẽ mãi được nhắc đến như một sự kiện đẫm máu và tội ác chống lại nhân loại – vết nhơ trong lịch sử Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ).

Bức ảnh tankman gây ấn tượng và ám ảnh tâm trí người quan tâm nhất về sự kiện Thiên An Môn

Đến nay, bất chấp những kỳ tích kinh tế mà đất nước tỷ dân đạt được sau gần 4 thập niên “đổi mới”, ký ức về Thiên An Môn vẫn đặt ra câu hỏi lớn về tính chính danh đối với sự cai trị của ĐCSTQ. Đồng thời, đây cũng là một trong những chủ đề chính trị nhạy cảm, điều cấm kỵ và bị kiểm duyệt rộng rãi nhất tại Trung Quốc, thậm chí còn hơn xa so với Cách mạng Văn hóa hay vấn đề Chủ quyền của Đài Loan. Hàng năm, cứ đến ngày này, Quảng trường Thiên An Môn lại bị giới nghiêm và bố trí tuần tra an ninh chặt chẽ nhằm ngăn chặn không để xảy ra bất cứ hoạt động tưởng niệm nào.

Sau nhiều đợt cải tổ nhân sự, một vài thành viên trong hàng ngũ lãnh đạo cao cấp của Trung Quốc đã bắt đầu có thể đề cập đến Thiên An Môn, nhưng phần đông đều đồng thuận, rằng: “Trung Quốc sẽ không bao giờ thay đổi lập trường về sự kiện”, mà ngược lại họ đã thành công trong việc “mở cửa ổn định và bảo vệ sự nghiệp Xã hội chủ nghĩa mang màu sắc Trung Quốc”, thậm chí đó còn là một “biện pháp kiên quyết kịp thời để dẹp yên cơn bão chính trị năm 1989, cho phép Trung Quốc có một chính phủ ổn định để phát triển”. Chưa hết, nhiều ý kiến ủng hộ quyết định đàn áp đám đông của ĐCSTQ – mà Đặng Tiểu Bình là nhân vật chủ chốt – còn viện dẫn thực tế, rằng “bất kỳ một chính phủ, quốc gia nào trên thế giới đều phải dùng tới sức mạnh quân sự khi quyền lực của họ bị đe doạ”.

Trong sự kiện năm 1989, kể từ mùa xuân, tại Quảng trường Thiên An Môn đã liên tiếp xảy ra nhiều vụ biểu tình dưới sự dẫn dắt của tầng lớp sinh viên, trí thức và công chức ở Thủ đô Bắc Kinh. Những hoạt động này phát triển lên đến cao trào sau cái chết của Hồ Diệu Bang – cựu Tổng Bí thư ĐCSTQ, nhà cải cách chính trị theo đường lối tự do, người bị buộc phải từ chức vì có lập trường quá mới mẻ và bị quy là đi ngược với đường lối của ĐCSTQ. Khi đối diện với phong trào, ngay trong bản thân nội bộ ĐCSTQ cũng đã bộc lộ sự chia rẽ sâu sắc, khi các lãnh đạo dao động qua lại giữa chiến thuật thỏa hiệp với sự cứng rắn, người ủng hộ trong lúc kẻ khác chống đối.

Cuối cùng, lãnh đạo tối cao Đặng Tiểu Bình (không giữ chức Tổng bí thư nhưng lại là người nắm quân đội) và những nguyên lão của ĐCSTQ tin rằng các cuộc biểu tình thực sựlà một mối đe dọa chính trị, đồng thời lo ngại cuộc khủng hoảng lan rộng sẽ đẩy Trung Quốc đến bờ vực sụp đổ (tương tự hầu hết các nước XHCN ở Đông Âu trong cùng năm), cho nên họ đã quyết định sử dụng vũ lực khi tuyên bố thiết quân luật vào ngày 20/05/1989, điều động hơn 300.000 quân tới Bắc Kinh (phần lớn từ các quân khu khác chứ không phải Bắc Kinh, vì những người lính có thể cũng có thân nhân, bạn bè trong đoàn biểu tình) và dẫn tới biến cố ngày 4/6. Cho đến tận bây giờ, vẫn còn nhiều tranh cãi về tính trung thực của các thông tin liên quan đến sự kiện, trong đó có con số thương vong, song có lẽ phải lên tới cả ngàn.

Căn nguyên dẫn đến sự kiện Thiên An Môn thì có nhiều, nhưng có lẽ cơ bản và quan trọng nhất chính là xuất phát từ những đòi hòi của người dân, nhất là trong giới sinh viên, trí thức về các quyền tự do dân chủ liên quan đến báo chí, ngôn luận và kiểm soát hoạt động kinh doanh (nói nôm na là thúc đẩy kinh tế tư nhân). Điều này là tất yếu, khi ngay từ năm 1978, Đặng Tiểu Bình đã tuyên bố mở cửa và cải cách kinh tế Trung Quốc theo hướng thị trường tự do với thuyết “mèo trắng, mèo đen” nổi tiếng. Và chắn chắn sự cởi mở hơn về kinh tế sẽ dẫn đến những yêu cầu về cải cách chính trị để thích ứng. Tuy nhiên, ĐCSTQ, mà nhất là Đặng Tiểu Bình đã tự chống lại xu thế đó. Có nhiều cách lý giải cho mục đích của họ Đặng khi ra lệnh đàn áp sinh viên với tư cách là người đứng đầu Quân ủy Trung ương, nhưng có lẽ là nhằm đạt được hai mục đích lớn: cứu Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của ĐCS khỏi nguy cơ tan rã, đồng thời hạ bệ và loại bỏ Triệu Tử Dương. Sự kiện này cũng gián tiếp giúp cho Giang Trạch Dân không lâu sau đó leo lên đỉnh cao quyền lực.

Đặng Tiểu Bình và Triệu Tử Dương. Sau hành động côn đồ xâm lược Việt Nam, 10 năm sau, họ Đặng lại ra lệnh cho quân đội nghiền nát người dân của mình. Tuy nhiên, ông ta lại được ca ngợi là cha đẻ của Trung Quốc hiện đại.

Vì hành động đàn áp bằng vũ lực mà Trung Quốc bị phương Tây lên án và áp dụng các biện pháp trừng phạt kinh tế lẫn cấm vận vũ khí. Ngược lại, chính phủ Trung Quốc cũng chỉ trích âm mưu tạo ra “diễn biến hòa bình hòng lật đổ ĐCSTQ” của phương Tây, đồng thời tăng cường bắt giữ, trấn áp, trục xuất và siết chặt kiểm duyệt truyền thông trong nước. Xét trên bình diện quy mô lớn, các chính sách tự do hoá do ĐCSTQ khởi xướng kể từ đầu thập niên 1980 đã tạm thời bị chặn đứng lại. Tuy nhiên, chính làn sóng đầu tư lớn đổ dồn vào Trung Quốc kể từ thập niên 1990 – mà đi đầu là Nhật Bản, Đài Loan – đã giúp Trung Quốc phát triển kinh tế vượt bậc, trở thành thế lực có ảnh hưởng chi phối thương mại toàn cầu và khiến người ta tạm quên đi bóng ma của sự kiện. Nhưng càng ngày Trung Quốc càng bộc lộ bộ mặt hung hăng, hiếu chiến và có vẻ như sẽ không bao giờ trở thành một cường quốc có trách nhiệm. Và cũng bởi trong quá khứ, ĐCSTQ đã sẵn sàng mang xe tăng nghiền nát người dân của họ chỉ vì những đòi hỏi căn bản chính đáng, thì cũng chẳng có lý do gì để họ có thể thương cảm lẫn xem xét nhẹ tay với các nước – mà họ xem là cái gai trong mắt, bao gồm cả Việt Nam.

Việt Nam nhất thiết phải xây dựng được chế độ chính trị ưu việt, tôn trọng nhân quyền hơn của Trung Quốc để lấy được hình ảnh đẹp đẽ trong mắt phương Tây

Để đối phó với mối đe dọa từ Trung Quốc, Việt Nam chắc chắn không thể và cũng không nên hành xử giống họ. Chúng ta cần thiết phải xây dựng một mô hình kinh tế – chính trị lẫn các thiết chế quản lý xã hội tiến bộ, ưu việt và đẹp đẽ trong mắt phương Tây hơn hẳn của Trung Quốc. Để làm được điều đó, tự bản thân chúng ta và nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam cần nắm lấy trách nhiệm, mạnh dạn tiến hành cải cách chính trị một cách toàn diện. Và dù ở trong bất cứ hoàn cảnh nào thì cũng không nên lấy nhân dân ra làm đối tượng thù địch để nghiền nát.