Một số quy định của Hiến pháp cần làm rõ!

Thứ Năm, 28.06.2018, 15:01

Năm 2013 được xem là một mốc thời gian quan trọng đánh dấu một sự đổi mới cho toàn diện đất nước, bởi Quốc hội Khóa XIII đã thông qua bản Hiến pháp mới. Theo đó, Hiến pháp năm 2013 là bản Hiến pháp của một thời kỳ đổi mới, khi mà đất nước Việt Nam chúng ta đã được xem là một quốc gia phát triển. Cụ thể, Hiến pháp năm 2013 đã thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, có sự kế thừa các bản Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992.

Khi nhìn tổng thể, bản Hiến pháp này đã thể hiện một sự đổi mới tương đối rõ nét về kỹ thuật lập hiến trong các điều khoản, thể hiện tư tưởng đối mới toàn diện của Đảng và Nhà nước ta. Tuy nhiên, khi xem xét và đánh giá lại, bản Hiến pháp vẫn có một số vấn đề cần phải được làm rõ một cách khách quan, chân thực, khoa học và toàn diện, để tránh dẫn tới cách hiểu sai và bất hợp lý về mặt pháp luật. Cụ thể:

– Theo những quy định hiện hành thì Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại. Theo tinh thần đó, Chủ tịch nước có những nhiệm vụ và quyền hạn bao gồm: Công bố Hiến pháp, luật, pháp lệnh; đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Phó Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ; căn cứ vào Nghị quyết của Quốc hội, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ; đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; căn cứ vào Nghị quyết của Quốc hội, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Thẩm phán các Tòa án khác, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao; quyết định đặc xá; căn cứ vào Nghị quyết của Quốc hội, công bố quyết định đại xá; quyết định tặng thưởng huân chương, huy chương, các giải thưởng nhà nước, danh hiệu vinh dự nhà nước… .

Như thế, với tư cách là người đứng đầu nhà nước, Chủ tịch nước đã có những quyền năng rất lớn, thể hiện những tính chất đặc trưng cho quyền lực của Nhà nước. Tuy nhiên, khi nhìn vào những quy định về nhiệm vụ và quyền hạn này của Chủ tịch nước trong Hiến pháp năm 2013 đã có một điểm không rõ. Cụ thể, theo quy định tại khoản 6 của Điều 88 Hiến pháp năm 2013 thì Chủ tịch nước còn có một nhiệm vụ và quyền hạn được xác dịnh như sau: “Tiếp nhận đại sứ đặc mệnh toàn quyền của nước ngoài; căn cứ vào nghị quyết của ủy ban thường vụ Quốc hội, bổ nhiệm, miễn nhiệm;” quy định này đến đây là được ngắt sau đó được quy định liền tiếp ngay sau đó là “quyết định cử, triệu hồi đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; phong hàm, cấp đại sứ; quyết định đàm phán, ký điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước; trình Quốc hội phê chuẩn, quyết định gia nhập hoặc chấm dứt hiệu lực điều ước quốc tế quy định tại khoản 14 Điều 70; quyết định phê chuẩn, gia nhập hoặc chấm dứt hiệu lực điều ước quốc tế khác nhân danh Nhà nước”.

Có thể thấy, khoản này của điều luật đã liệt kê một số nhiệm vụ, quyền hạn được chia thành sáu hành động độc lập, được ngăn cách bởi năm dấu chấm phẩy. Tuy nhiên, ở hành động thứ hai “căn cứ vào nghị quyết của ủy ban thường vụ Quốc hội, bổ nhiệm, miễn nhiệm(;)” thì lại thiếu rõ ràng vì chủ thể sẽ được bổ nhiệm, miễn nhiệm ở đây ai là thì lại không quy định được rõ đó là người nào. Do đó, điều luật này đã quy định thiếu về một chủ thể trong quy phạm nên cần thiết phái có sự lưu ý, xem xét lại và làm rõ.

– Theo Hiến định, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Khi đó, Quốc hội và Hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho quyền lực nhà nước. Ở đây, đối với những cơ quan này, hoạt động chủ yếu được thực hiện thông qua từng các cá nhân đại biểu. Theo đó ở địa phương, các Đại biểu Hội đồng nhân dân là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân địa phương, có nhiệm vụ vận động nhân dân thực hiện Hiến pháp và pháp luật và chính sách của Nhà nước, nghị quyết của Hội đồng nhân dân và động viên nhân dân tham gia quản lý nhà nước.

Trên tinh thần đó, khi hoạt động, một trong những quyền năng của các Đại biểu Hội đồng nhân dân là được chất vấn các cá nhân có những vị trí, vai trò nhất định trong bộ máy Nhà nước. Tuy nhiên, theo Điều 115 của Hiến pháp năm 2013 thì Đại biểu Hội đồng nhân dân đã có quyền chất vấn Chủ tịch Ủy ban nhân dân, các thành viên khác của Ủy ban nhân dân, Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Thủ trưởng cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân nhưng ở đây lại không được quy định rõ là các cá nhân có thể bị chất vất đó là thuộc cấp nào.

Trên thực tế, các Hội đồng nhân dân cùng các vị Đại biểu chỉ được thực hiện quyền lực trong phạm vi ở địa phương mình. Điều này đã được khẳng định trong Hiến pháp và các văn pháp luật khác của Nhà nước. Đó là những quy định hoàn toàn phù hợp với tính chất của tổ chức quyền lực và phương thức thực hiện kỹ thuật trong bộ máy của Nhà nước. Chính vì thế mà lẽ đương nhiên là các Đại biểu Hội đồng nhân dân ở địa phương không thể được thực hiện quyền chất vấn đối với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao được, vì như thế sẽ là vượt cấp. Tương tự như vậy, các Đại biểu Hội đồng nhân dân ở địa phương thuộc cấp dưới cũng không thể được quyền chất vấn Chủ tịch Ủy ban nhân dân, các thành viên khác của Ủy ban nhân dân, Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Thủ trưởng cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân ở cấp trên được vì như thế cũng sẽ là vượt quyền, vượt cấp và bất hợp lý về mặt khoa học. Do đó, Hiến pháp khi quy định đã chung chung như vậy là còn mang tính thiếu chính xác.

Trên thực tế, theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương được ban hành năm 2015 tại điều 96 đã quy định rõ: “Đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền chất vấn Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Ủy viên Ủy ban nhân dân, Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp. Đây là một quy định hoàn toàn hợp lý, đúng đắn và chính xác về mặt pháp luật. Do đó, cần thiết phải làm rõ hơn về quy định này trong bản Hiến pháp.

Bên cạnh đó, Hiến pháp năm 2013 còn quy định về một vấn đề không cần thiết. Cụ thể, theo quy định tại Điều 19 của Hiến pháp năm 2013 thì “Mọi người có quyền sống”. Ở đây,. quy định này cần thiết phái có sự xem xét lại cả mặt lý luận và thực tiễn. Cụ thể, về mặt lý luận, quyền sống là một trong những quyền năng mang tính cơ bản và tự nhiên nhất của con người, thể hiện bản năng của con người đương nhiên phải được pháp luật thừa nhận với mọi sự tồn tại của các chế độ xã hội. Đây là một trong những quyền mang tính tối thiểu nhất mà con người khi sống trong xã hội được mặc nhiên thừa nhận. Vì thế, Hiến pháp không nhất thiết phải khẳng định lại điều này.

Trước đây, quyền sống đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh của chúng ta nhắc đến trong Bản tuyên ngôn độc lập vào ngày 2 tháng 9 năm 1945 trong đó đã có nội dung: “Hỡi đồng bào cả nước. Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc…”. Tuy nhiên, tại thời điểm đó, nước ta mới giành được độc lập trong bối cảnh khi mà trong suốt một thời gian dài đã bị ách đô hộ của thực dân Pháp, và trên thế giới còn nhiều quốc gia còn chịu cảnh áp bức, bóc lột và đô hộ, khi đó, mạng sống của con người đã không được đảm bảo. Do đó, quyền sống được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc đến ở đây là một trong những quyền năng cơ bản của tạo hóa nhằm chống lại ách thống trị của chế độ đế quốc và thực dân. Vì vậy, Hiến pháp hiện nay không nhất thiết phải nhắc lại quyền này.

Trên thực tế, theo khoản 1 của Điều 20 Hiến pháp năm 2013 thì cũng đã có một quy định là “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe…” và tại Điều 34 còn có một quy định nữa là “Công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội” Mặt khác, Điều 43 của Hiến pháp năm 2013 đã quy định: “Mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường”. Như thế, với những quy định này có thể nói, tính mạng, sức khỏe tương ứng với quyền sống của con người đã được Nhà nước đảm bảo và thừa nhận, thậm chí là còn có quyền được sinh sống an toàn, lành mạnh trong môi trường xã hội, ở trong một môi trường sống trong lành, do đó cả ba điều luật này đã quy định bao hàm quyền sống và thậm chí còn quy định rộng hơn về quyền này. Vì thế, việc Hiến pháp năm 2013 đã quy định tách riêng quyền sống trong một điều luật ở Điều 19 như vậy sẽ là không cần thiết nữa.

Như thế, với những quy định trên đây, cần thiết phải có sự làm rõ hơn, để Hiến pháp thực sự là một văn bản pháp luật trong sáng, cụ thể, dễ hiểu và gần gũi với tất cả mọi người chúng ta, nhằm tránh dẫn tới những cách hiểu sai và gây khó khăn khi áp dụng trong thực tiễn cuộc sống.