Mối hiểm họa của Việt Nam từ “Bẫy nợ” của Trung cộng

Thứ Ba, 09.10.2018, 15:03

Giấc mộng Trung Hoa “vành đai – con đường” để thực hiện mưu đồ bá quyền thế giới, ngoài việc vẽ nên đường lưỡi bò 9 đoạn chiếm biển Đông gây nên sự phẫn nộ của cộng đồng thế giới, Trung Quốc còn sử dụng chính sách thực dân mới hậu hiện đại là với danh nghĩa viện trợ đầu tư vào các nước có nền kinh tế nhỏ để tạo nên “chiếc bẫy nợ” cho những nước này, đến khi không có khả năng trả nợ thì Bắc Kinh sẽ chớp lấy cơ hội chèn ép họ nhượng bộ về chủ quyền quốc gia, an ninh quốc phòng.

Trong gần một thập kỷ vừa qua, có rất nhiều quốc gia “sập bẫy nợ” của Trung Quốc, cụ thể như Sri Lanka đã vay Trung Quốc 1,5 tỷ USD năm 2010 để xây một cảng loại lớn tại thị trấn Hambantota. Sau khi hoàn thành, cảng này gần như không hoạt động do đó Sri Lanka không có tiền để trả cho Trung Quốc, họ đã ký hợp đồng cho Bắc Kinh thuê luôn toàn bộ cảng trong thời hạn 99 năm. Tương tự như vậy, Pakistan đã vay nợ Trung Quốc hơn 6 tỷ USD để xây dựng cơ sở hạ tầng, không đủ khả năng chi trả đã phải cho thuê cảng nước sâu chiến lược Gwadar trong vòng 40 năm. Còn đối với Montenegro việc xây dựng đường cao tốc 160 km không dẫn tới đâu đã phải vay Trung Quốc 1,2 tỷ USD để hoàn thành, đồng thời phải nhượng bộ Bắc Kinh trong việc cam kết “tăng cường hợp tác với Trung Quốc trong các lãnh vực khác, trong đó có thủy điện và du lịch”. Đó là một số quốc gia điển hình đã rơi vào bẫy nợ “con đường tơ lụa” của Trung Quốc, hiện còn nhiều quốc gia khác có thể kể đến như: Maldives, Djibouti, Tajikistan, Kyrgyzstan, Argentina, Lào và nhiều quốc gia châu Phi,…gần đây nhất là Zimbabwe và Venezeula cũng chịu chung tình cảnh bi đát mất chủ quyền về tay Trung cộng.

Việt Nam không ngoại lệ, cũng đang là đích để Trung Quốc hướng tới, quan tâm chiếu cố “ngoại giao bẫy nợ” người đàn em láng giềng “môi hở thì răng lạnh” này nhất là vì vị trí địa lý và mối quan hệ lịch sử kéo dài hàng ngàn năm nay. Nguồn vốn đầu tư mà Trung cộng chuyển vào Việt Nam dưới hình thức là cho vay để phát triển nhưng thật ra là nhằm thực hiện mưu đồ chính trị, quốc phòng và chiến lược quân sự của mình. Hiện nay, tỷ lệ công nợ so với GDP của Việt Nam rất cao là khoảng 62,6% vào năm 2017 và dự kiến sẽ tăng lên 63,9% vào cuối năm 2018. Trong lĩnh vực tài chính thì chúng ta ai cũng biết tính thanh khoản của hệ thống ngân hàng Việt Nam là thấp trong khi nhu cầu của Chính phủ vẫn muốn thực hiện nhiều dự án đầu tư phát triển lớn trong mọi ngành, mọi lĩnh vực nên nhu cầu vay nợ sẽ gia tăng, nếu không kiểm soát chặt chẽ khoảng nợ vay từ Trung cộng thì khả năng Việt Nam sập bẫy nợ Trung Quốc trong tương lai gần sẽ rất cao.

Một điều cũng đáng lo ngại cho Việt Nam cũng không kém phần quan trọng như nợ quốc gia, đó là nợ doanh nghiệp trong nước đối với Trung Quốc, việc chính quyền Bắc Kinh hỗ trợ tiền cho ngân hàng, doanh nghiệp Trung Quốc thông qua bình phong là các tập đoàn, thương nhân Việt Nam đã làm lũng đoạn thị trường bất động sản trong những năm gần đây, họ vung tiền thâu tóm hàng loạt các dự án ở các vị trí đắc địa mang tính chiến lược an ninh quốc phòng của Việt Nam. Nếu các doanh nghiệp nước ta không có khả năng trả nợ vay từ Trung Quốc thì lúc đó họ siết nợ theo đúng quy định Luật Các tổ chức tín dụng hiện hành của Việt Nam, có nghĩa là tịch thu các tài sản như bất động sản, nhà xưởng, văn phòng, khu du lịch,…nằm những vị trí chiến lược quan trọng dọc theo bờ biển từ Bắc vào Nam mà doanh nghiệp Việt Nam đã mua để trừ nợ thì rất nguy hiểm. Bên cạnh đó, vừa qua Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho giao thương bằng Nhân dân tệ trên lãnh thổ nước ta dẫn đến tình trạng chính sách tiền tệ của Việt Nam phụ thuộc vào Trung Quốc do đồng Nhân dân tệ có giá trị mạnh hơn sẽ chi phối đồng tiền Việt Nam. Chúng ta sẽ bị kiểm soát nền kinh tế, buộc nước ta phải nhượng bộ cả chủ quyền lãnh thổ và nhiều quyền lợi kinh tế, chính trị khác.

Không những thế, vị trí triển khai các dự án có vốn đầu tư của Bắc Kinh là một vấn đề an nguy cho Việt Nam về mặt an ninh quốc phòng. Cụ thể, Tây Nguyên có vị trí chiến lược cực kỳ quan trọng là vị trí “yết hầu”, “tử huyệt” của cả nước, là mái nhà của miền Nam bán đảo Đông Dương” lại cho Trung Quốc xây dựng Dự án Boxit với sáu nhà máy, trong đó sử dụng hàng chục ngàn nhân công người Trung Quốc. Bên cạnh đó là các đặc khu kinh tế và dự án đầu tư cơ sở hạ tầng dọc theo suốt bờ biển nước ta như Vân Đồn, Đà Nẵng, Hà Tỉnh, Bình Thuận, Phú Quốc,…mỗi nơi thường có một cảng gắn liền, cảng này có thể là cảng thường hay cảng nhiệt điện để đón và bốc dỡ than đá từ các tàu cỡ từ 30 đến 40 ngàn tấn chở than đá đến làm nguyên liệu cho nhà máy nhiệt điện, những cảng này đóng một vai trò quân sự quan trọng nếu Trung Quốc là chủ nhân của nó. Hiện nay, Trung Quốc gần như đã nuốt chửng toàn bộ biển Đông, nếu có xung đột quân sự xảy ra giữa hai nước thì quân Trung cộng có thể tấn công Việt Nam từ bốn phía: phía Bắc từ biên giới đi xuống, phía tây từ Tây Nguyên đi sang, phía Đông từ bờ biển Đông đi lên và phía Nam từ Phú Quốc tràn về để từ đó có thể chia cắt nước ta thành nhiều mảnh thì sẽ dễ dàng phong tỏa Việt Nam, quân và dân của chúng ta như “cá nằm trên thớt” tha hồ mà lính Trung cộng chặt chém đủ kiểu.

Qua đó có thể thấy hệ lụy từ vay Nhân dân tệ của Trung Quốc là rất lớn, việc sử dụng nguồn vốn đó lại đầu tư xây dựng vào các nơi trọng yếu của đất nước như Tây Nguyên và các cảng dọc theo bờ biển Việt Nam là rất nguy hiểm cho an ninh quốc phòng của nước ta, sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho Trung Quốc bố trí dàn quân, đổ quân, tiếp tế các tàu quân sự trực tiếp de dọa chủ quyền quốc gia Việt Nam. Chính vì thế, chúng ta phải sáng suốt và thận trọng hơn đối với nguồn vốn viện trợ của Bắc Kinh, việc phát triển các lĩnh vực kinh tế, xã hội là cần thiết trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là cần thiết nhưng không vì thế mà lơ là, mất cảnh giác đối với vấn đề an ninh quốc phòng, chủ quyền của quốc gia.