Làm sao để thúc đẩy tinh thần công dân ở Việt Nam?

Thứ Tư, 24.10.2018, 15:56

“Không thể chỉ tìm kiếm và thúc đẩy tinh thần công dân ở riêng trong bất cứ một địa hạt nào, mà tốt hơn hết, hãy cùng tìm hiểu xem với các bối cảnh thể chế khác nhau, nó được hình thành, thực thi và phát triển ra sao” (Nhà xã hội học Brandsen).

Nhìn chung, tinh thần công dân không thể tách rời khỏi đời sống chính trị. Không gian sinh hoạt chính trị càng cởi mở và lành mạnh thì tinh thần và ý thức công dân lại càng cao.

Hiện nay, trước những xáo trộn và thách thức về mặt kinh tế xã hội mà Việt Nam đang phải đối mặt, hơn bao giờ hết, tinh thần công dân lại rất cần được hun đúc và phát huy.

Từ góc nhìn triết học chính trị, mặc dù còn tồn tại rất nhiều tranh cãi liên quan đến nguồn gốc, chẳng hạn khái niệm “công dân” và “tinh thần công dân” ra đời từ thời Hy Lạp cổ đại (cách đây hơn 2000 năm) ở các thành bang (city – state), hay thực chất mới chỉ xuất hiện trong khoảng vài trăm nay trở lại – khi các cuộc Cách mạng tư sản châu  đã nâng vị thế của những thần dân (vốn chấp nhận sự an phận) trở thành công dân có các quyền tự do được pháp luật bảo vệ, song không thể phủ nhận một thực tế rằng những tư tưởng này đang ngày càng được mở rộng, lan ra khắp thế giới và trở thành nền tảng cho các xã hội nhân văn. Theo đó, tinh thần công dân liên quan đến những đức tính và hành vi mà người công dân cần có, như biết kiểm soát bản thân, khoan dung, tôn trọng, quan tâm đến người khác cùng các vấn đề xã hội, và cam kết tham gia để hoàn thành trách nhiệm, bổn phận công dân. Còn ngược lại với tinh thần công dân, đó là những hành vi ích kỷ, sự thờ ơ và vô trách nhiệm đối với người khác, hay tính thiếu kiểm soát khi phát sinh mâu thuẫn cùng thái độ không chịu tiếp thu, tuân thủ theo các nguyên tắc đạo đức chung bên cạnh nhiều tật xấu khác.

Mặc dù vậy, không phải tự nhiên người dân một nước đã có ngay tinh thần công dân, mà điều này đòi hỏi cần phải có sự tham gia tích cực của cả nhà nước lẫn các tầng lớp dân cư vào quá trình công dân hóa (civicness) hay xã hội và thiết chế hóa tinh thần công dân (socializing and institutionalizing the civility), nơi nhà nước sẽ kiến tạo các môi trường và thể chế để khuyến khích sự hình thành của tinh thần công dân, còn người dân sẽ chủ động gắn kết, tiếp thu và thực hành nó. Do đó, người dân cần thực hiện tinh thần công dân như một dạng quyền và nghĩa vụ đối với đất nước, chứ không phải chỉ đơn giản để giải quyết những mâu thuẫn cá nhân trong xã hội. Một người với tư cách là công dân của một quốc gia, tức là đã có quyền và nghĩa vụ theo Hiến pháp và pháp luật, trong đó có quyền bầu cử để lựa chọn đại diện lãnh đạo. Vì thế, cũng có thể nhấn mạnh ngay rằng, nếu thiếu đi các quyền căn bản thì danh xưng “công dân” thực chất mới chỉ là cái vỏ mà chưa có nội dung thực chất. Ngoài ra, đời sống đô thị (với tầng lớp thị dân đông đảo có học thức, tài sản và địa vị) cũng đem lại nhiều thuận lợi hơn so với khu vực nông thôn, miền núi cho quá trình công dân hóa.

Rút gọn về mặt nội hàm, khái niệm tinh thần công dân cần tập trung vào tính liên đới, dấn thân và phụng sự xã hội. Cùng nhìn lại lịch sử, mặc dù thâm trầm và chậm chạp hơn so với phương Tây, nhưng tại các xã hội Á Đông vốn chịu nhiều ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa, trong đó có Việt Nam, từ khá sớm cũng đã xuất hiện một số khía cạnh của tinh thần này … tiêu biểu là trong thời Pháp thuộc và trước Cách mạng tháng Tám với những đường lối và phong trào hoạt động vì tiến bộ xã hội như Phan Châu Trinh với Đông Kinh Nghĩa Thục, Tự Lực Văn Đoàn với Nhà ánh sáng cùng nhiều khuynh hướng và trào lưu khác … Tuy nhiên, sang đến giai đoạn đất nước bị chia cắt bởi chiến tranh (1945 – 1975), tinh thần công dân ở cả hai miền Nam – Bắc đã phải chịu khá nhiều định hướng chính trị, khi sự hy sinh vì quốc gia, cộng đồng được đề cao, còn chủ nghĩa cá nhân thì bị phê phán nặng nề hay chưa được coi trọng đúng mực. Tiếp đó, kể từ sau năm 1975, xã hội Việt Nam đã chứng kiến nhiều sự biến đổi, khiến tinh thần “vì nghĩa”, hy sinh vì cộng đồng dần trở nên mờ nhạt, trong khi lối sống “vụ lợi” thì đang ngày càng lên ngôi. Thứ nữa, chương trình giáo dục công dân học đường của chúng ta hiện nay đã bộc lộ rất nhiều hạn chế, cũng như thiếu ăn nhập với các thách thức của xã hội đương đại. Ngoài ra, phần lớn các phong trào hay hoạt động do Mặt trận Tổ Quốc cổ vũ, mặc dù đã góp phần không nhỏ giúp cải thiện đời sống của người dân và thúc đẩy sự gắn kết xã hội nhất định, nhưng vẫn còn bị giới hạn nhiều trong khuôn khổ chính trị của các nguyên tắc và điều lệ. Chưa kể, xã hội Việt Nam hiện vẫn chưa cho thấy có nhiều đổi mới trong tư duy tiếp cận theo hướng tuyệt đối hóa sự thống nhất và đoàn kết xoay quanh một trung tâm duy nhất (giống như thời chiến) … khiến hiệu quả bồi dưỡng tinh thần công dân thật sự đã không được như mong đợi.

Thời Tự lực Văn Đoàn, tại Việt Nam đã có những phong trào, hoạt động xã hội rất mạnh mẽ và thiết thực như Nhà ánh sáng

Vì vậy, khi đưa ra một tầm nhìn hướng về tương lai, có lẽ chúng ta nên bắt đầu bằng một số thay đổi, theo hướng dung nạp và cởi mở, bao gồm 1) Hoàn thiện các thể chế pháp luật và chính trị; 2) Nới rộng không gian sinh hoạt của các tổ chức dân sự và tôn giáo – vốn có vai trò rất quan trọng trong việc tạo dựng, củng cố tình liên đới giữa những cá nhân trong cộng đồng; 3) Cần nhận thức đầy đủ về những cơ hội và thách thức của tiến trình hội nhập quốc tế, bên cạnh sự tiến bộ và lan tỏa của các công nghệ mới; 4) Đổi mới chương trình giáo dục công dân, ở cả trong lẫn bên ngoài nhà trường, như cải cách về mặt nội dung (như giản dị hóa, cụ thể hóa, tập trung vào trọng tâm …) và hình thức truyền đạt.

Sau cùng, quan trọng hơn và cũng khó khăn hơn, đó là các thế hệ đi trước cần thiết phải trở thành tấm gương về tinh thần và tư cách công dân thì mới có thể tạo được sự tin tưởng nơi thế hệ trẻ – luôn là thành phần xã hội dễ tiếp thu cái mới, nếu được bồi đắp và định hướng đúng đắn (qua truyền thông và giáo dục) thì hoàn toàn có thể đóng vai trò quyết định, thúc đẩy công bằng và tiến bộ xã hội ở Việt Nam.