Không thể xây tương lai bằng những chất liệu mơ hồ

Thứ Sáu, 27.04.2018, 15:20

Sáng ngày 25/04 (mồng 10 tháng 3 Âm lịch) tại Phú Thọ, dù trời đổ mưa lớn nhưng hàng vạn người dân trên khắp mọi miền đất nước đã cùng đổ về khuôn viên đền Hùng để chờ dâng hương – cử chỉ cho thấy dân ta sùng kính đến mức độ nào.

Hàng vạn ngàn người dân đội mưa, chen chúc để dâng hương giỗ Tổ

Thậm chí không ít người đã có mặt từ tận hôm trước, tìm chỗ trú qua đêm, sẵn sàng nằm bờ ngủ bụi để chuẩn bị cho nghi lễ chính. Vì vậy, điều kiện thời tiết bất lợi vào buổi sáng cũng đã không thể ngăn cản đoàn người đội mưa gió, mặc áo mưa, che ô để leo núi dâng hương tại các điện thờ có người còn dùng cả túi bóng để thay cho ô. Ở những điểm chốt hàng rào trong khuôn viên đền Hùng, lực lượng chức năng (công an) cùng thanh niên tình nguyện luôn túc trực dưới mưa trong tình trạng sẵn sàng để đảm bảo an ninh cho lễ hội. Tất cả, cùng nhau đã tạo nên một bức tranh sống động nhưng cũng đầy tâm trạng về ngày giỗ Tổ.

Phải chăng, đức tin của chúng ta đang biến tướng tới mức thái quá và trở thành tệ nạn dị đoan? Bởi vì không chỉ mỗi dịp giỗ Tổ mà tại nhiều dịp lễ hội khắp nơi trên cả nước như Khai ấn đền Trần, chùa Hương, Yên Tử, hội Gióng,…dân ta cũng đều tỏ ra cuồng nhiệt như vậy. Chưa kể, đã không ít lần chúng ta phải nghe những câu chuyện bi hài như cả làng cùng rủ nhau vái một cặp rắn – bỗng đâu xuất hiện trên ngôi mộ vô danh (của một người đàn bà ăn mày) ở Quảng Bình; hay cả xã ở huyện Đô Lương (Nghệ An) rủ nhau đi xem và mang hoa đến cúng con cá “thần” “hết nổi lên rồi lại chìm xuống” dưới một con mương nhỏ; rồi người dân cả huyện Tam Dương (Vĩnh Phúc) cùng sụt sùi, khóc lóc dưới gốc cây Trôi “thần” cổ thụ – bị xem là đã “giết chết” 12 người chỉ trong một tháng. Để bây giờ cả nước, từ lãnh đạo đến người dân, cùng nhau đội mưa dâng hương cúng bái một vị vua mà thực ra chỉ có trong huyền sử.

Cả làng ở Quảng Bình quỳ lạy, cúng vái một cặp rắn nước

Khác với chúng ta, người Nhật mặc dù luôn có một niềm tin mạnh mẽ vào nguồn gốc Thái Dương thần nữ của họ, hay dân tộc Do Thái luôn bám chặt vào sợi dây liên kết với đấng tổ phụ Abraham, nhưng những niềm tin ấy lại không phải được xây dựng trên sự vô minh như chúng ta. Vô minh ở đây có thể hiểu là sự u mê lầm tưởng và không thấy được tự tính.

Người Việt vẫn hay dạy nhau rằng chúng ta là một dân tộc giàu bản sắc với bốn ngàn năm văn hiến, qua truyện Hồng Bàng Thị cùng những truyền thuyết về Kinh Dinh Vương, Lạc Long Quân – Âu Cơ và bọc trăm trứng nở ra trăm người con, 50 theo cha xuống biển, 50 theo mẹ lên rừng, rồi một trong những người con theo mẹ ấy đã trở thành Hùng vương – thủy tổ của nước Việt.

Thuyết trên quả thật có quá nhiều lỗ hổng, bởi nếu trừ đi giai đoạn ngàn năm Bắc thuộc (từ năm 179 TCN hay 111 TCN đến trước năm 983 SCN khi Ngô Quyền đánh bại quân Nam Hán) – vốn cũng chỉ được ghi chép rất ít trong sử Tàu, thì mãi cho đến thế kỷ thứ 13 (tức triều đại nhà Trần), chúng ta (Đại Việt) mới có quan chép sử. Vì vậy, thời Hùng Vương chỉ nên được xem là truyền thuyết, do không có văn bản ghi chép và cũng chẳng hề có bằng chứng khảo cổ, nhân chủng học nào chứng minh cho tính đúng đắn của nó.

Khu tượng đài Vua Hùng ở Gia Lai ghi chép mỗi vị vua sống tới gần 600 tuổi

Mặc dù rất căm ghét chính sách Đại Hán bành trướng của Trung Quốc, nhưng có lẽ chúng ta cũng không nên chối bỏ, mà thay vào đó cần có những nghiên cứu nghiêm túc về mối liên hệ với cội nguồn Bách Việt (tập hợp những bộ tộc sinh sống ở vùng đất phía Nam sông Trường Giang suốt nhiều ngàn năm TCN), và một số nhà nước thời Xuân Thu như Sở, Ngô, Việt (cư trú tại vùng đất nay là Thượng Hải, Chiết Giang). Được biết, các vua nước Sở thời Xuân Thu (1030 TCN – 223 TCN) vẫn hay lấy tên húy là Hùng và mang họ Mị; hay bên Lưỡng Quảng (Quảng Đông, Quảng Tây) có đến cả trăm nơi người ta dựng đền thờ vua bà, tức Trưng Thị. Vì sao lại có sự trùng hợp đến như vậy? Chúng ta cần để giới trẻ biết và hiểu về những dữ kiện lịch sử như vậy.

Giả sử nếu nước Văn Lang (2879 TCN – 258 TCN) và 18 đời vua Hùng là có thật, thì mỗi vị vua sẽ có tuổi thọ trung bình gần 150 năm – chi tiết thật sự rất khó thuyết phục. Ấy vậy mà, chúng ta vẫn hay căn cứ vào những điều mơ hồ để áp đặt cho cả dân tộc, rồi cổ xúy cho những phong trào tâm linh, tôn giáo xô bồ, xa hoa lãng phí. Chưa kể, nước ta có đến hơn 50 dân tộc cùng chung sống trên một dải đất hình chữ S, nếu cố ép những người thiểu số – vốn có tín ngưỡng và cách lý giải riêng về nguồn gốc – phải thờ chung một vị Hùng Vương của người Kinh làm Quốc Tổ thì xem ra có phần hơi phản nhân văn và đi ngược lại chính sách hòa hợp dân tộc? Thậm chí, có ông thiền sư Lê Mạnh Thát còn viết cuốn Lục Độ Tâm kinh, đề nghị sửa lại lịch sử, cho rằng không hề có giai đoạn ngàn năm Bắc Thuộc, thời Hùng Vương kéo dài đến tận sau Công nguyên và Phật giáo du nhập vào Việt Nam trong thời kỳ này (qua truyền thuyết Chử Đồng Tử), tất cả chỉ để chứng minh một điều rằng Phật giáo mới là dân tộc – lập luận như vậy rất có khả năng gây chia rẽ, hiềm khích tôn giáo nhiều hơn là đoàn kết, hòa hợp.

Thiền sư Lê Mạnh Thát tuyên bố phát hiện động trời rằng không có chuyện ngàn năm Bắc thuộc và đời Hùng Vương kéo dài đến tận sau Công nguyên

Mới đây, tại Diễn đàn Khởi nghiệp Việt Nam năm 2018 do Phòng Thương mại & Công nghiệp Việt Nam VCCI và báo Diễn đàn Doanh nghiệp tổ chức, bàn kế để thúc đẩy sự phát triển của cộng đồng sáng tạo tại Việt Nam, TS. Vũ Tiến Lộc – chủ tịch VCCI – còn trích dẫn câu chuyện Mai An Tiêm, người con nuôi của vua Hùng, như một ví dụ kinh điển về tinh thần sáng tạo của người Việt khi nghĩ ra giải pháp: viết tên lên trái dưa hấu rồi thả trôi vào đất liền để mong có ngày đến tay vua Hùng. Nhưng hỡi ôi, tìm hiểu về lịch sử trái dưa hấu mới thấy loại quả này vốn có nguồn gốc tận từ Châu Phi, sang đến Trung Đông, rồi chỉ có mặt ở Ấn Độ từ thế kỷ thứ 7 SCN trước khi lưu truyền đến Trung Quốc. Như vậy, câu chuyện về ông tổ nghề trồng dưa hấu Mai An Tiêm thời Hùng Vương (trước Công nguyên) có mấy phần đáng tin mà lại đem ra để dạy nhau về sáng tạo?

Chủ tịch VCCI TS. Vũ Tiến Lộc mang câu chuyện về người con nuôi Mai An Tiêm của vua Hùng ra làm ví dụ minh chứng cho sự sáng tạo của người Việt Nam

Yêu nước và tự hào về nguồn gốc, văn hóa, truyền thống dân tộc là việc tốt, song điều quan trọng hơn là chúng ta cần xây dựng tâm thế ấy dựa trên nền tảng tri thức, sự hiểu biết vững chắc về những điều có cơ sở, chứ không phải chỉ là truyền thuyết hoang đường. Nhân loại bây giờ đang tìm đường lên định cư ở sao Hỏa; robot và trí tuệ nhân tạo (AI) đang ngày càng trở nên thông minh, đe dọa vị trí của con người; hay những công nghệ vốn trước đây chỉ có trong phim viễn tưởng như xe tự lái,…thì nay đang dần trở thành hiện thực. Do đó, chúng ta không thể lập kế hoạch cho tương lai bằng nỗi ám ảnh, mụ mị và sự lên đồng mãi được.