Không giới hạn nguyện vọng vào đại học, học sinh không có định hướng

Thứ Năm, 19.04.2018, 14:57

Kỳ thi Trung học phổ thông quốc gia năm 2018, lần đâu tiên Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép học sinh đăng ký không giới hạn nguyện vọng vào các trường đại học. Có những em học sinh đăng kí đến hơn 20 nguyện vọng, cánh cửa đại học dường như đã mở bất tận ra với học sinh.

Thí sinh chọn đến hơn 20 nguyện vọng vào đại học, để làm gì?

Đến ngày 20/04 tới đây, thời hạn đăng ký thi Trung học phổ thông quốc gia và xét tuyển đại học, cao đẳng năm 2018 sẽ kết thúc, nhiều thí sinh vẫn loay hoay trong việc đăng ký chọn nguyện vọng. Trên các trang diễn đàn của sinh viên trung học phổ thông, nhiều em học sinh bày tỏ niềm “hứng thú” vì được chọn không giới hạn số nguyện vọng thi đại học, cao đẳng.

Theo phản ánh của một số trang tin, nhiều học sinh đăng ký tới 10, 15, 20,… và thậm chí là 25 nguyện vọng vào các trường đại học. Đã bao giờ, chúng ta thấy được những điều như thế này ở một kỳ thi trung học phổ thông quốc gia hay chưa?

Đại học, cao đẳng vẫn tiếp tục được coi là con đường thành đạt duy nhất!

Thẳng thắn nhìn nhận vào vấn đề, Bộ Giáo dục – Đào tạo càng mở rộng cánh cửa vào đại học, cao đẳng cho thí sinh, lượng học sinh sử dụng nguyện vọng vào đại học càng nhiều thì cho thấy, tâm lý xã hội càng quan trọng hóa vấn đề phải học đại học, cao đẳng để lấy bằng cấp.

Một học sinh tại Trường Trung học phổ thông Yên Hòa (quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội) cho biết đã đăng ký tới 25 nguyện vọng vào nhiều ngành, của nhiều trường đại học. Rõ ràng, em học sinh này còn chưa xác định được đam mê, gắn bó và khả năng, năng lực của mình phù hợp với ngành, nghề nào. Dường như, trường hợp này đăng ký thi đại học là chỉ để được “đi học”, vì dù ngành nào, dù trường đại học nào thì việc đỗ đại học đối với bạn đó vẫn là đáng quý.

Lỗi ở đây không phải là do Bộ Giáo dục – Đào tạo đã tạo ra một cơ chế dễ dàng cho học sinh có cơ hội trở thành sinh viên các trường đại học, cao đẳng. Lỗi là do chúng ta đang đem ra những cơ hội mới, nhưng thiếu sự giáo dục, tuyên truyền nhận thức cho học sinh. Để rồi, học sinh chỉ coi việc có nhiều nguyện vọng thi đại học tức là đây là con đường duy nhất mà họ phải chọn. Phải đỗ vào đại học, cao đẳng bất chấp niềm đam mê, yêu thích và bất chấp khả năng học tập của họ, như vậy liệu có phù hợp hay không?

Thật vậy, tâm lý chạy đua vào các trường đại học của học sinh đã đẩy đến những khung cảnh “ảm đạm” của ngành giáo dục nghề nghiệp. Tại Hội thảo đổi mới phương pháp dạy học trong kỷ nguyên số đối với lĩnh vực nghề nghiệp sáng 17/04, ông Lê Quân, Thứ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và xã hội đã thắng thắn nhìn nhận: “Do ảnh hưởng của yếu tố tâm lý xã hội, người học có tâm lý học chạy theo bằng cấp, chưa chú trọng đến yếu tố thực nghề, thực nghiệp”. Chẳng có mấy chính sách tạo ra thu hút cho người ta tham gia vào các trường nghề, vào phát triển giáo dục nghề nghiệp. Đúng là bằng cấp vẫn có một thứ hạng rất cao trong đời sống xã hội hiện nay tại Việt Nam. Chẳng thế mà bao nhiêu trường hợp phải làm bằng giả, đi “mượn” bằng để được thăng quan, tiến chức,…

Tại sao cả một thời gian dài bao nhiều năm qua, hết các cấp, các ngành, mọi nơi hô hào khẩu hiệu đại học, cao đẳng không phải con đường duy nhất để thành công nhưng học sinh các thế hệ sau vẫn coi đại học, cao đẳng là con đường tối ưu nhất. Đơn giản vì chính sách, vì cơ chế xã hội của đất nước vẫn ưu tiên con người ta nghĩ đến đại học, cao đẳng là nhất, ví dụ như cách mà chúng ta đang mở rộng không giới hạn nguyện vọng vào đại học, cao đẳng của học sinh vậy. Cứ đăng ký đi, cứ thi đi rồi bạn sẽ được vào đại học. Dễ dãi như thế bảo sao học sinh vẫn cứ đi theo lối mòn cũ kĩ ấy.

Đối mặt phía trước là điều gì?

Trong khi đó, cánh cổng trường đại học mở rộng và có thể là không khép lại với tất cả học sinh thì bên trong cổng trường, một môi trường giáo dục mới chờ đón nhưng chẳng được “chăm chút”. Liên tục đổi mới để học sinh vào được đại học, Bộ Giáo dục – Đào tạo chỉ chăm lo “thiết kế cổng trường đại học” mà quên sửa sang “nội thất bên trong trường”.

Những chương trình đào tạo đại học vẫn cũ kỹ, chưa đáp ứng nổi điều kiện thực tế. Học sinh ra trường vẫn thất nghiệp, vẫn thiếu những kỹ năng thực tiễn cần cho công việc,… Thế đấy, học sinh được mời gọi vào đại học, và khi càng dễ dàng vào được, người học lại càng cảm thấy “hụt hẫng”.

Một thông tin mà nhiều người cũng hay thường nhắc đến. Hằng năm vô số sinh viên các trường đại học bị “nợ môn”, nhiều trường hợp bị buộc thôi học do kết quả học tập sa sút nhiều năm. Thử liên hệ với những trường hợp đăng ký đến 25 nguyện vọng vào đại học. Số này sẽ là số khó khăn trong học tập tại đại học nhất chứ còn ai nữa. Vì đến chính cả đam mê của mình của mình còn chưa xác định rõ cơ mà.

Đưa nguyện vọng về “đúng chỗ”?

Trong hệ thống giáo dục đào tạo tại Mỹ, một quốc gia có nền giáo dục phát triển hiện đại bậc nhất trên thế giới, học sinh cũng có nhiều nguyện vọng trong chọn ngành học. Nhưng khác Việt Nam ở chỗ, họ đặt những nguyện vọng lực chọn này trong thời gian sau 2 năm học phần lý thuyết đại cương ở bậc đại học. Điều này có nghĩa là gì? Sau khi học đại học 2 năm tại đại học, sinh viên có quyền đổi ngành học mà không cần thi lại. Đương nhiên, việc đổi ngành học cũng phải ở trong phạm vi những ngành liên quan nhất định. Việc làm này rõ ràng mang lại chất lượng và tác động tích cực đến việc học tập của sinh viên nếu họ cảm thấy ngành học cũ của mình là không phù hợp.

Như vậy, tại sao ở Việt Nam, thay vì chúng ta tạo quá nhiều cơ hội cho sinh viên vào được đại học rồi sau đó “bỏ mặc sinh viên lao đao”, hãy có thể một lần học tập cách giáo dục mới lạ như thế này. Dám chắc một điều rằng, việc tạo cơ hội cho sinh viên đổi ngành học sẽ có ích hơn rất nhiều so với cách mà chúng ta tạo cơ hội cho họ đỗ đại học như ngày hôm nay.

Với giáo dục, với học sinh, sinh viên, xin hãy thực hiện những điều thiết thực nhất, đừng đem học sinh tiếp tục lạc vào những ma trận vô hình, và rồi họ lại mất định hướng chẳng biết con đường nào sẽ mang lại sự phát triển cho bản thân.