Khi “bàn tay hữu hình” chưa thể vươn ra

Thứ Ba, 08.05.2018, 14:10

Trong khung cảnh của ngành mía đường toàn màu tối trước mắt, người nông dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai đành phải phá bỏ hàng nghìn ha mía để chuyển sang trồng mì. Dẫu vậy, tương lai phía trước có thoát khỏi cảnh tối của người dân hay không vẫn là một dấu hỏi lớn.

Người nông dân bất lực tìm cơ hội bù lỗ, thoát nghèo trong khi đó, chính quyền địa phương từ cán bộ Ủy ban nhân dân, cán bộ phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng chỉ biết quan ngại về tương lai của những hộ dân chuyển sang trồng mì. Sự thật này cho thấy, chính quyền và các ban, ngành chuyên môn vẫn chưa có chính sách căn cơ, dài hơi để giúp nông dân ổn định sản xuất, ổn định đầu ra cho nông sản nhằm hướng đến một nền sản xuất bền vững.

Bàn tay vô hình chiếm hết phần của bàn tay hữu hình!

Bày tay vô hình được xem như tính tương tác tự điều chỉnh bởi cung, cầu trong thị trường hàng hóa, từ đó quyết định đến sản xuất, buôn bán. Đây là quy luật khách quan, nhưng đôi khi sẽ gây ra hậu quả nặng nề với nền kinh tế. Bàn tay hữu hình là sự quản lý, tác động định hướng của nhà nước, hạn chế các hậu quả do sự “độc tôn” của bàn tay vô hình gây ra. Hiện nay, các quốc gia đều đang hướng đến cân bằng giữa “bàn tay vô hình” với “bàn tay hữu hình” trong nền kinh tế. Tại Việt Nam, trách nhiệm của nhà quản lý từ lâu được mặc định cần phải cân bằng giữa yếu tố thị trường và yếu tố quản lý của Nhà nước, từ đó bảo đảm sự ổn định của nền kinh tế. Ở đây, là bảo đảm tính định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế. Đây được xem là tính ưu việt của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam nhưng tính ưu việt này dường như không được bảo đảm trên thực tế, đặc biệt là trong ngành nông nghiệp.

Lặp đi lặp lại chu trình hằng năm “được mùa mất giá, được giá mất mùa” trên hầu hết các loại cây trồng, vật nuôi, đến nay các cơ quan ban ngành vẫn chưa tìm được một giải pháp cụ thể nào để phát huy vai trò quản lý, điều tiết kinh tế của mình. Ở nhiều địa phương, người nông dân luôn phải tự mình “bươn chải” để quyết định “trồng cây gì, nuôi con gì” bây giờ! Ngay những ngày hè nắng nóng này, người dân Quảng Nam lại một lần nữa đối mặt với những ruộng dưa không ai thèm mua. Quen quá rồi mà.

Hậu quả thì như ai cũng thấy rồi, giải pháp phát triển nông nghiệp bền vững đến nay vẫn là điều quá xa xỉ. Trồng cây mất mùa, thì người nông dân lỗ vốn; nhưng trồng cây được mùa thì có khi cũng vẫn lỗ vốn vì phải đổ bỏ, tiền bán không đủ tiền chi phí bỏ ra. Đến cả lúc, người nông dân chọn cách không làm gì thì giọt nước mắt vẫn cứ rơi. Sau cuộc khủng hoảng giá lợn kéo dài, đến nay khi giá lợn tăng mạnh trở lại thì bao nhiêu người dân lại khóc cảnh “lợn không, chuồng trống”. Đơn giản vì sau khi giá lợn giảm, tất cả đồng loạt bỏ nuôi lợn. Một lần nữa, bàn tay vô hình lại xuất hiện, cung giảm, cầu tăng, giá được đẩy lên. Ở đây, nếu không có bàn tay hữu hình xuất hiện, sẽ chẳng mấy thời gian nữa thì giá lợn lại rớt mà thôi.

Giá lợn tăng, người nông dân khóc cảnh “lợn không, chuồng trống”

Thẳng thắn là nên định hình sản phẩm theo địa phương!

Người ta nói quy luật cung – cầu, tức là nó có diễn biến theo những xu hướng nhất định và có thể dự báo. Cái người nông dân cần là giá cả, nhưng giá cả chỉ có thể ổn định trên cơ sở lượng sản phẩm đúng mức. Tất cả đều chỉ có thể trông chờ vào dự báo thị trường của các ban, ngành chuyên môn thuộc mỗi địa phương mà thôi.

Như trong câu chuyện tại tỉnh Gia Lai, người dân vùng này đang phá mía, trồng mì, nhưng mặt bằng chung cả vùng Đông Nam Bộ đang có sản lượng mì rất lớn rồi, đầu tư vào có hợp lý nữa không? Nếu các cơ quan ban ngành đem ra những cảnh báo mang tính cụ thể, thực tiễn hơn thì có lẽ người nông dân đã không liều mình để đuổi theo một hướng đi chưa rõ kết quả như vậy.

Cảnh báo ở đây đừng dừng lại ở những việc “có thể giá mì sẽ giảm”, mà phải là những dẫn chứng, số liệu biến động cụ thể và rõ ràng thì mới thuyết phục. Mặt khác, đi cùng cảnh báo cũng cần có những giải pháp “trồng con gì, nuôi con gì” để không bế tắc trở lại. Ấy mới là cốt lõi vấn đề.

Mà muốn dự báo chính xác tình hình, muốn rõ ràng và cụ thể thì phải làm sao để liên kết người nông dân thành một đầu mối chung, chứ không chỉ là những mối nhỏ, riêng rẽ vài ba hộ dân. Nếu có thể tập hợp thành một hợp tác xã nông nghiệp chung, hoặc đơn giản chỉ là mô hình hợp tác đại diện trong xã, huyện,… thì việc quản lý của chính quyền địa phương sẽ phát huy tác dụng trong hướng chọn cây trồng, vật nuôi của người nông dân. Rõ ràng, người nông dân nào cũng chỉ muốn mình đầu tư có hiệu quả. Việc quản lý sẽ dễ dàng nếu chính quyền các địa phương thực sự cho thấy được sự đáng tin cậy của mình…