Gian lận thi cử, lệch lạc giáo dục

Thứ Tư, 08.08.2018, 11:09

Trong lúc các trường đại học, cao đẳng trên cả nước đang lần lượt công bố điểm trúng tuyển và nhận hồ sơ của thí sinh thì dư luận vẫn không khỏi bức xúc trước những gian lận thi cử vừa qua tại Hà Giang, Sơn La, Hòa Bình, … và có thể còn ở nhiều nơi khác nữa.

Phát ngôn không thể làm hài lòng dư luận của Bộ trưởng Giáo dục

Trên thực tế, sự tồn tại của một đường dây nâng điểm, chạy điểm quy mô lớn hay những bất cập trong kỳ thi tốt nghiệp trung học (THPT) và tuyển sinh đại học chỉ là phần nổi của tảng băng chìm. Bởi ngay đến các quan chức giáo dục cũng phải thừa nhận, rằng mặc dù năm nào Việt Nam cũng có học sinh đi thi đạt giải quốc tế, song hệ thống của chúng ta đang rất có vấn đề, và càng cải cách thì lại càng rối.

Khoảng 5 – 6 năm trở lại đây, hầu như mùa thi nào chúng ta cũng được chứng kiến những sáng kiến, đề xuất và phương án đổi mới được đem ra áp dụng, biến cả người học, người dạy lẫn phụ huynh trở thành “chuột bạch thí nghiệm”, phải chạy theo hết sức mệt mỏi. Chẳng hạn năm 2015, ngay sau khi điểm thi được công bố trên mạng, sĩ tử cùng gia đình còn phải liên tục theo dõi, cập nhật về vị trí, thứ hạng để biết mình đang ở đâu và tỷ lệ đỗ là bao nhiêu nhằm nộp hồ sơ cho chính xác – không khác gì chơi chứng khoán hay đánh trận giả. Hay như năm nay (2018), bên cạnh phương án xét tuyển đại học dựa trên kết quả thi, nhiều trường còn được Bộ Giáo dục trao thêm quy chế tự thu hút thí sinh bằng phương án xét học bạ … khiến không ít người phải đặt câu hỏi về ý nghĩa và mục đích của kỳ thi.

Có nhiều nguyên nhân đem đến tình trạng này, như vấn đề lạm phát trường, ngành học và áp lực tự chủ tài chính khiến các cơ sở giáo dục phải tìm đủ cách để tuyển cho đủ số lượng mà xem nhẹ yếu tố chất lượng và quy trình. Ngoài ra đó còn là yếu tố kỳ vọng xã hội khi nhiều thí sinh cùng gia đình có ước muốn được theo học những lĩnh vực thời thượng với nhiều cơ hội hơn về đầu ra (kinh tế, ngoại thương, tài chính ngân hàng, y, dược, … ) hay được nhà nước bao cấp (công an, quân đội, phòng cháy chữa cháy, … ) tạo nên cơn sốt, đẩy điểm thi của những trường này lên cao chót vót, dẫn tới việc tồn tại nhu cầu và làm phát sinh tiêu cực, như vụ gian lận điểm thi vừa qua.

Không quá khó để thấy rằng trong một xã hội mà căn bệnh thành tích hiện đã di căn quá nặng thì những tiêu chí – vốn chỉ có thể đạt được qua tô vẽ, nhào nặn – như 98% học sinh đỗ tốt nghiệp lại được xem là thước đo mẫu mực để đánh giá mức độ thành công của nền giáo dục. Một tỷ lệ cao bất thường như vậy liệu có phải là tốt? Hay phải chăng chúng ta đã quá dễ dãi? Vì sao không cố gắng xây dựng một hệ thống với cơ chế sàng lọc và phân loại rõ ràng ngay từ những cấp dưới, để người học nào thực sự có khả năng thì mới tiếp tục theo lên bậc cao, còn lại đi theo hướng nghiệp, đào tạo nghề. Chúng ta vẫn hay nói về vấn nạn “thừa thầy, thiếu thợ” của nền giáo dục Việt Nam, nhưng đúng hơn phải là thiếu cả thầy lẫn thợ … giỏi.

Thời Pháp thuộc, nền giáo dục cưỡng bách mà chính quyền thực dân áp đặt lên người An Nam mang tính sàng lọc rất cao. Khi ấy, thường chỉ tầng lớp tinh hoa (giàu, giỏi, hoặc cả hai) mới đủ điều kiện để học lên Tú tài; tốt nghiệp trường Bảo hộ thuộc địa (Cấp 3 Chu Văn An bây giờ) hay Albert Sarrut (Cấp 3 Trần Phú bây giờ) là đã có thể trở thành công chức chính quyền hay giáo sư trung học (cấp 2). Hay như ở miền Nam trước năm 1975, tỷ lệ tốt nghiệp Tú tài 1 (tương đương lớp 11) và Tú tài 2 (lớp 12) luôn chỉ ở mức 20 – 30% tổng số người học, cho nên bằng cấp thời đó cầm sang châu Âu thường được đánh giá rất cao, coi như tương đương. Nhiều thế hệ tú tài khi xưa, dù tuổi đời còn rất trẻ, nhưng đã thông thạo Đông Tây kim cổ (triết học, văn chương, lịch sử, địa lý, …) để mặc sức tranh luận về đủ vấn đề trên đời, thậm chí còn làm cách mạng như tấm gương các lãnh tụ Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, … Câu chuyện rất đáng để phải suy ngẫm.

Thời xưa, giai đoạn Pháp thuộc và miền Nam trước năm 1975, Việt Nam đã từng có nền giáo dục rất nghiêm chỉnh. Trong hình là các nữ sinh Trung học Gia Long (nay là Trung học Nguyễn Thị Minh Khai, Quận 3, TP. HCM)

Sau cùng, vấn đề cốt lõi vẫn là con người. Những đề án giáo dục, dẫu có được thiết kế đẹp đến đâu, song nếu người thực hiện không đủ tâm và tầm thì cũng chẳng thể có hoa thơm trái ngọt, đúng với câu “lương sư hưng quốc”. Giáo dục không nên bị vấy bẩn bởi những cơ hội kim tiền, mà cần thiết phải tồn tại là vì con người – ở đây là con người tự do, nhân bản và khai phóng. Có quá nhiều việc cần phải làm để cứu vãn nền giáo dục này, nhưng có lẽ trước tiên chúng ta cần xác định lại cho rõ các chức năng của nó, đồng thời kêu gọi xã hội chung tay đóng góp lẫn đòi hỏi sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị.