Giải pháp hòa giải nào cho Việt Nam?

Thứ Tư, 02.05.2018, 11:03

Như vậy, đã 43 năm trôi kể từ ngày 30/04/1975 lịch sử – chấm dứt chiến tranh và thống nhất đất nước. Có lẽ đã đến lúc người Việt Nam, cả ở trong lẫn ngoài nước, cần nghiêm túc ngồi lại để cùng nhau tìm ra giải pháp, thực hiện hàn gắn và đoàn kết dân tộc nhằm đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới. Nhiệm vụ đó, nhẽ ra cần phải được thực hiện từ sớm, nhưng dù muộn vẫn còn hơn là không làm gì.

Bức hình chụp hai người lính khi chiến tranh kết thúc

Điều này đặc biệt càng có ý nghĩa trước những động thái hòa hợp, hòa giải gần đây trên bán đảo Triều Tiên, khiến những người Việt Nam thường hay ưu tư về đất nước phải cảm thấy nóng mặt. Mặc dù hai miền Nam – Bắc Triều Tiên cũng trải qua 3 năm nội chiến (1951 – 1953), trả giá bằng sinh mạng của hàng triệu người và hơn 60 năm chia cắt, nhưng Hàn Quốc hôm nay đã thực sự đạt được vị thế của một cường quốc kinh tế, khoa học công nghệ và quân sự hàng đầu thế giới; và trước khi mở cửa cải cách, đối thoại với phương Tây, ông Kim Jong-un cũng đã kịp nắm trong tay tên lửa đạn đạo và bom nhiệt hạch để tiếng nói có thêm trọng lượng. Nếu hai miền Triều Tiên có thể thống nhất theo kịch bản tương tự như nước Đức thì đó quả thực là phúc cho dân tộc Hàn, và triển vọng của họ, có lẽ sẽ rất rực rỡ.

Còn quá sớm để nói chuyện thống nhất hai miền Triều Tiên, nhưng cái bắt tay giữa lãnh đạo Kim Jong-un với Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae-in khiến người Việt Nam không khỏi chạnh lòng

Trong diễn từ nhận giải Nobel Hòa Bình tại Nauy năm 2012, bà Aung San Suu Ki đã trích dẫn câu ngạn ngữ của người Pháp: “Bị lãng quên là chết đi một ít” (to be forgotten is to die a little). Những ngày này, khi cả thế giới hướng sự chú ý về những cử chỉ đẹp của lãnh đạo hai miền Triều Tiên, tại sao người Việt Nam chúng ta lại không thể dẹp hận thù, cùng gác lại bóng ma của quá khứ để thực sự hòa giải, hàn gắn, … và chứng tỏ cho thế giới thấy khát vọng lẫn bản lĩnh của dân tộc mình. Làm sao để truyền thông phương Tây sau này phải nhắc đến ngày 30/04 như “The United Day of Vietnam” thay vì “The Fall of Saigon”.

Người Do Thái dù mất đất, tha hương, lưu lạc cả ngàn năm, nhưng họ đã trở về và xây dựng nên một nhà nước Phục Quốc Do Thái hùng mạnh tại Trung Đông, ngay giữa sự thù nghịch của thế giới Ả Rập. Israel có một quy định rằng bất cứ ai mang dòng máu Do Thái, dù sống ở đâu hay đã bị lai tạp, thì đều được xem là công dân của họ. Tại sao chúng ta không xem đó là bài học mà cứ “đao to búa lớn”, tự huyễn hoặc mình về đức tính đoàn kết, bao dung có từ thời Lạc Long Quân – Âu Cơ trong huyền sử? Chẳng thế mà khi còn sống, cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã không biết bao lần đề cập đến chuyện hòa hợp, hòa giải, nhưng hiệu quả cũng chả là bao.

Israel được xây dựng lên giữa sự thù nghịch của thế giới Ả Rập, và thực sự là đất nước của tất cả người mang dòng máu Do Thái trên khắp thế giới

Cùng bị chia cắt như Đức và Triều Tiên trong thời chiến tranh Lạnh, Việt Nam đã may mắn thống nhất sớm, nhưng với cái giá phải trả cực đắt. Đó là sinh mạng của khoảng 3 – 5 triệu người dân ở cả hai miền, hàng triệu tấn bom và hóa chất độc hại còn sót lại sau chiến tranh và một đất nước kiệt quệ, tụt hậu hàng chục năm so với các láng giềng – mà nhờ cuộc nội chiến của chúng ta để vươn lên giàu mạnh như Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Thái Lan hay Malaysia, … Nhưng cay đắng hơn, đó là sự hận thù, loạn lạc và ly tán của cả nguồn lực lẫn lòng người – mà đến tận hôm nay vẫn chưa tài nào chấm dứt.

Thế kỷ 21 được dự đoán sẽ là thời đại của những cuộc cạnh tranh chất xám vĩ đại, trong khi các cường quốc đang hăm hở tiến về phía trước như vũ bão thì người Việt Nam hiện vẫn đang loay hoay, bế tắc trong các vấn đề của chính mình. Trong quan hệ với Trung Quốc, mối nguy cơ lệ thuộc và bị thôn tính lãnh thổ đang ngày càng trở nên hiện hữu. Vì lý do đó, chỉ có hòa giải, hòa hợp và đoàn kết dân tộc mới có thể giúp Việt Nam vượt qua kiếp nạn và thực hiện một cuộc đổi đời ngoạn mục. Tình hình thế giới đầy biến động cùng sự trỗi dậy không hòa bình của Trung Quốc khiến các cường quốc phương Tây đang rất kỳ vọng Việt Nam có thể trở thành một đối tác mạnh, có trách nhiệm và để phục vụ cho mục tiêu cân bằng chiến lược. Vấn đề ở đây là chúng ta có tận dụng được cơ hội hay không mà thôi. Để làm được điều đó, rõ ràng là phải đoàn kết, trân trọng và tìm cách phát huy mọi nguồn lực.

Nhưng hòa hợp, hòa giải bằng cách nào và lộ trình thực hiện ra sao? Đó có lẽ phải là trách nhiệm của rất nhiều bên, không chỉ riêng người trong nước, nhất là Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, mà cả những tinh anh, đại diện ưu tú nhất trong cộng đồng người gốc Việt ở hải ngoại cũng phải có trách nhiệm tự chủ động chìa tay ra để nắm bắt. Bằng không, tất cả sẽ chỉ là những giọt nước mắt trong vô vọng, cùng nỗi hận ôm xuống tuyền đài khi lìa đời.

Hầu hết các lãnh đạo chủ chốt của hai miền Nam – Bắc Việt Nam trong giai đoạn nội chiến như Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng bí thư Lê Duẩn hay Cố vấn Lê Đức Thọ, … (Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa) và Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, Tổng thống Trần Văn Hương hay Thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ, … (Việt Nam Cộng Hòa) đều đã qua đời. Ngay đến những nhân vật tham gia đàm phán và ký kết Hiệp định hòa bình Paris (1973) cũng chẳng còn mấy ai, ngoại trừ Phó Chủ tịch nước (Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam) Nguyễn Thị Bình và cựu ngoại trưởng, cố vấn đặc biệt của Tổng thống Mỹ Henry Kissinger, … Như vậy, chúng ta cần phải chủ động và khẩn trương mời những người này ra làm đại diện để thúc đẩy hòa giải trước khi quá muộn … vì họ chết nghĩa là hết, bởi con cháu họ – những người không liên quan đến cuộc chiến – chắc chắn sẽ không thể gánh vác nổi trách nhiệm ấy. Hay như bà Nguyễn Thị Mai Anh (1931) – phu nhân Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, hiện vẫn còn sống, tại sao Nhà nước Việt Nam không chủ động tiếp xúc và liên lạc với bà này, vì đã ở tuổi gần 90 thì đâu ai còn hơi sức để mà chống đối.

Hầu hết những đại diện chủ chốt của bốn bên tham gia đàm phán và ký kết Hiệp định hoà bình Paris (1973) đều đã qua đời. Phải khẩn trương thực hiện hòa giải trước khi quá muộn

Ngoài ra, trong cộng đồng người gốc Việt tại hải ngoại hôm nay cũng đã xuất hiện một số tên tuổi thành danh, có địa vị và tầm ảnh hưởng quan trọng như Cựu phó thủ tướng Đức Phillip Roesler, Thượng nghị sĩ Ngô Thanh Hải (Canada), Dân biểu liên bang Mỹ Stepheny Murphy (Đặng Thị Ngọc Dung), Cựu dân biểu liên Bang Mỹ Cao Quang Ánh, nữ khoa học gia Lầu Năm Góc Dương Nguyệt Ánh, luật sư Đinh Đồng Phụng Việt, Giáo sư Nguyễn Xuân Vinh, xướng ngôn viên đài CBS Betty Nguyễn, hay ông Toàn quyền tiểu bang Nam Úc Lê Văn Hiếu , … Nhà nước cần chủ động tiếp cận và thỏa hiệp với những người này trên phương châm: “lợi ích quốc gia, dân tộc trên hết”, hay “không ai quá vĩ đại mà cũng chẳng ai quá tầm thường”. Thực sự là khi so sánh với người Do Thái, người Nhật, người Tàu hay người Hàn, … tinh anh của Việt Nam vốn đã chẳng vượt trội gì, thậm chí mỏng yếu hơn nhiều, đã vậy lại còn hay chia rẽ.

Bên cạnh đó, chính quyền Việt Nam hôm nay cũng cần có ý thức thực sự tôn trọng và gìn giữ những di sản của Sài Gòn, Đà Lạt và miền Nam trước năm 1975. Chúng ta không thể kêu gọi hòa giải khi vẫn giữ thái độ kẻ cả, sử dụng những danh xưng miệt thị như “ngụy quân, ngụy quyền”, để nghĩa trang quân đội Biên Hòa trong tình trạng xuống cấp, hoang phế, và bị lấn chiếm, … hay cấm đoán những giá trị tinh thần của người miền Nam trước đây như lá cờ vàng cùng ca khúc Tiếng gọi Công dân. Nên nhớ, tình yêu Tổ quốc không thể chỉ bị bó hẹp trong, mà cần phải vượt lên trên những tranh cãi ý thức hệ, hoặc tầm thường hơn là lá quốc kỳ hay bài quốc ca. Nhiều năm nay, chúng ta đã mắc sai lầm lớn khi để các tập đoàn kinh tế như Vin Group thôn tính những lô đất đẹp, đắc địa tại Sài Gòn, nơi gắn liền với truyền thống văn hóa và giá trị lịch sử như Ba Son … mặc dù đó mới chính là những công cụ đắc lực giúp thúc đẩy tiến trình hòa giải dân tộc – nói như TS khảo cổ Nguyễn Thị Hậu. Cần chấm dứt và khắc phục trước khi tất cả bị xóa bỏ.

Chúng ta đang bảo vệ không tốt các di sản của Sài Gòn. Điều này cực kỳ bất lợi cho công cuộc hàn gắn, hòa giải

Thay vì đều đặn tổ chức các sự kiện như họp mặt, vinh danh Việt kiều hàng năm, chúng ta cần có những động thái tích cực và chủ động hơn, để hoàn toàn gạt qua một bên những khác biệt và cùng ngồi lại nhằm tìm ra lộ trình cho dân tộc. Hồi thập niên 1970, trước nguy cơ bị Trung Quốc Đại lục thôn tính, giới trí thức và tư bản Hoa kiều trên khắp thế giới, chủ yếu tại Mỹ, đã cùng nhau vận động (lobby) để cho ra đời Đạo luật Quan hệ Đài Loan (Taiwan Relaton Act) năm 1979 – theo đó Hoa Kỳ cam kết sẽ bảo vệ Đài Loan trong trường hợp bị Đại lục tấn công. Hiện nay, Việt Nam cũng đang ở vào tình thế không kém phần hung hiểm, tại sao chúng ta lại không làm gì và phó mặc vận mệnh đất nước?

Ngoài ra, còn rất nhiều nhiệm vụ mà sức của cá nhân không tài nào thưc hiện nổi, đòi hỏi nỗ lực không ngừng nghỉ của cả cộng đồng hay cả dân tộc … Cần phải khẩn trương lên vì thời gian chắc chắn không chờ đợi Việt Nam trên vũ đài thế giới. Và nếu như chúng ta thất bại vì không chịu hòa giải, đoàn kết, … thì đó chính là có tội với Tổ quốc.