Đối mặt với kẻ thù không đáng sợ bằng đối mặt với quyền lực bị thao túng, cán bộ bị tha hóa

Thứ Tư, 11.04.2018, 15:01

Quyền lực được ví đúng như con ngựa bất kham, người không đủ nhân cách mà giao cho họ cầm cương, thì nó sẽ tung phá, làm ngã hoặc thậm chí là làm chết cả người ngồi trên yên ngựa. Quyền lực vốn là “con dao 2 lưỡi”, có thể phục vụ cho sự phát triển của đất nước, nhưng cũng có thể làm hại đất nước nếu rơi vào tay những kẻ tham lam, bất tài.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước hiện nay, vấn đề kiểm soát quyền lực và bảo vệ niềm tin của nhân dân vào Đảng và chính quyền đang là một trong những yếu tố quan trọng.

Tham vọng quyền lực khiến cán bộ suy thoái đạo đức, lối sống

Trước nguy cơ suy giảm lòng tin của nhân dân vào Đảng và hệ thống chính quyền, làm đe dọa tới sự tồn vong của chế độ. Do hậu quả của việc một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và lãnh đạo đang có biểu hiện suy thoái, xuống cấp về đạo đức và lối sống.

Thì người lãnh đạo cao nhất của Đảng – Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã phải tuyên bố “nhốt” quyền lực vào “lồng” quy chế. Đây được xem như lời hiệu triệu để cả hệ thống chính trị cùng vào cuộc để chống lại sự tha hóa, biến thoái của một bộ phận không nhỏ trong Đảng. Và quyết tâm chống lại hành vi tham nhũng, những con sâu đang làm xấu đi hình ảnh và bộ mặt của đất nước.

Khởi đầu cho hành động quyết tâm đó, là việc Tổng Bí thư đã chỉ rõ: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, vô nguyên tắc…”. Tại Hội nghị Trung ương 4, của Đảng, tháng 1/2012.

Rồi mới đây nhất, những ngày đầu năm 2018, Ban Tổ chức Trung ương đã đưa ra ý kiến dự thảo về kiểm soát quyền lực và phòng chống “chạy chức – chạy quyền” trong công tác tổ chức cán bộ. Đây là một bước tiến mới để hướng tới thể chế về kiểm soát quyền lực.

Quyền lực vốn là của dân nhân, khởi đầu là thế và mãi mãi cũng là thế. Quyền lực không phải của riêng bất kỳ ai, bất kỳ cá nhân, gia đình hay dòng họ nào. Quyền lực được quy về một mối, là người đó đã được nhân dân trao quyền, ủy quyền và trở thành đại diện cho nhân dân, để sử dụng cho công việc chung của đất nước.

Người xưa vẫn có câu: “quyền cao, đức trọng”, có nghĩa là người có quyền cao là nhân cách và đạo đức của họ được nhân dân tin tưởng mà trao quyền. Quyền lực càng cao thì phải được trao cho người có nhân cách tốt, để nó được sử dụng đúng mục đích, bảo vệ lợi ích chung và vì lợi ích của nhân dân mà thực hiện.

Nếu quyền lực được trao cho người không có đạo đức, thì vô cùng nguy hiểm. Nó đồng nghĩa với việc “giao trứng cho ác”, “gửi con cho quỷ”… và điều đó đồng nghĩa với việc quyền lực chung, sẽ phải phục vụ cho lợi ích riêng.

Sau này, chủ tịch Hồ Chí Minh cũng từng dạy: “Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”. Để nói về mối quan hệ giữa Tài và Đức của người cán bộ. Người cán bộ cần thấm nhuần tư tưởng, phải thường xuyên rèn đức và tài để xứng đáng trở thành “công bộc”, “đầy tớ của nhân dân”. Xứng đáng trở thành người có “quyền cao, đức trọng” theo đúng nghĩa.

Trong các hình thái kinh tế xã hội trước đây, quyền lực thuộc về những kẻ có quyền và có tiền. Vì vậy mà trong chế độ nô lệ, các chủ nô đã chiếm giữ và sử dụng quyền lực đó để biến xóa bỏ quyền lực của người khác và bắt họ làm nô lệ.

Đến thời đại phong kiến, quyền lực của nhân dân thuộc về sự chiếm hữu của bậc vua chúa và quan quân. Những quyền ít ỏi của con người đều là do vua, chúa ban phát cho, vua chúa đại diện cho pháp luật nên muốn chém giết ai cũng có thể ra quyền.

Trong thời đại những năm cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, đất nước lâm nguy trong tay những kẻ thực dân và đế quốc ngoại bang, xâm lăng, cướp bóc và bóc lột con người. Thì quyền lực của nhân dân đã bị cướp đi một cách trắng trợn, biến nhân dân trở thành đối tượng bị cai trị.

Còn trong thời đại hiện nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, quyền lực đã được khẳng định trong các nghị quyết văn kiện của Đảng, để đề ra đường lối xây dựng và phục vụ quyền đó của mỗi công dân. Cụ thể, các quyền lực của nhân dân được thể hiện rõ ràng vào trong Hiến pháp và pháp luật Việt Nam.

Quyền lực thuộc về tay nhân dân, nhưng nhân dân không trực tiếp nắm giữ tất cả, mà nhân dân sẽ ủy quyền đó có những người mà nhân dân coi là xứng đáng và sẽ là tiếng nói của mình. Thông qua Hội đồng nhân dân các cấp và các Đại biểu Quốc hội. Nói chúng đó là sự ủy quyền cho nhà nước, để nhà nước quản lý và sử dụng quyền lực để bảo vệ phục vụ nhân dân, để kiến tạo và xây dựng một quốc gia phát triển.

Nhưng với việc nắm giữ quyền lực, sẽ tạo nên cho con người nắm giữ nó có thể lợi dụng để hô biến tài sản chung thành tài sản riêng, người trong gia đình, dòng họ được đứng vào vị trí cao trong xã hội. Điều này đã làm cho bộ máy nhà nước phải “gồng gánh” đối mặt với những “con sâu gặm tiền” và những kẻ đang bòn rút đồng tiền của nhân dân.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và quyết tâm chống lại tham vọng quyền lực của cán bộ

Quyền lực cũng giống như ma túy, là thứ gây nghiện, biến con người vào vòng hấp dẫn cộng hưởng, trở thành sự đam mê. Vì thế, người ta sẵn sàng “chạy chức – chạy quyền” bằng mọi giá để có thể nắm giữ và ngồi được vào nó.

Khi có quyền lực rồi con người vẫn muốn có quyền lực lớn hơn, lớn hơn rồi lại muốn lớn hơn nữa. Cứ thế và mãi như thế, không hề có điểm dừng và không hề quan tâm tới bản chất của người cán bộ, lãnh đạo chỉ là đại diện cho nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước đó.

Quyền lực đã biến cho những người cán bộ bằng mọi giá có hành vi “nâng đỡ không trong sáng”, “vun vén gia đình”, bổ nhiệm “4 ệ – 5c”… Và điều đó thực sự là một sự tha hóa, biến chất lớn trong Đảng, trong bộ máy nhà nước. Làm giảm niềm tin của nhân dân và nguy cơ bị sụp đổ chế độ, phá vỡ đường lối mà Đảng và Nhân dân đã cùng nhau xây dựng.

Bài học từ Liên Xô có thể xem là một minh chứng quan trọng, trong việc quyền lực bị thao túng và cán bộ bị tha hóa. Vì sự tha hóa đó mà Liên Xô chấp nhận sự sụp đổ trước bộ máy lãnh đạo đất nước yếu kém và thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các nước bên ngoài.

Liên Xô là một quốc gia hùng mạnh trên thế giới ở thế kỷ 20, là quốc gia chống lại 14 nước đế quốc đang bao vây, tìm mọi cách xâm chiếm, khi nhà nước Xô – Viết được mới thành lập và còn non trẻ. Đại chiến thế giới thứ 2 nổ ra, Liên Xô có thể chống lại những đợt tấn công từ quân đội phát xít và tạo lập hòa bình cho thế giới.

Liên Xô được ví như là pháo đài mà quân địch phá bên ngoài chẳng nổi, nhưng cuối cùng thì chính Liên Xô phải “tự đổ từ bên trong”. Bởi sự suy thoái và tha hóa của người cán bộ, lãnh đạo đất nước này.

Tại Philippines trước đây cũng cho thấy một bài học sâu sắc về việc quyền lực bị người cầm quyền nước này nắm giữ và chi phối. Đó là Tổng thống Ferdinand Marcos, người nắm giữ quyền lực của Philippines giai đoạn 1965 – 1986 trong quá trình lãnh đạo đất nước của mình, và ông là người đã chi phối toàn bộ số quyền lực đó thuộc về tay các cấp dưới thân cận để quản lý.

Trong gần 10 năm nắm quyền điều hành đất nước của Tổng thống Ferdinand Marcos, tổ chức Minh bạch Quốc tế (Transparency International) đã có bản báo cáo công bố ông này đã có được khối tài sản lên tới 5 – 10 tỷ USD. Ông Ferdinand Marcos chỉ bị phế khỏi chức vụ này vào năm 1986, khi vụ đầu tư cá nhân lên tới hàng trăm triệu USD của ông này vào Hoa Kỳ,

Về Việt Nam, lịch sử dân tộc Việt Nam cho thấy, chúng ta chưa từng thất bại dưới tay kẻ thù, nhưng triều đại phong kiến Việt Nam đã nhiều lần để đất nước rơi vào tay giặc, chỉ vì sự tha hóa quyền lực của các triều đại phong kiến Việt Nam.

Sau Cách mạng tháng 8/1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người có công lao to lớn nhất. Được nhân dân tôn lên làm Chủ tịch, làm vua của đất nước, nhưng người không muốn công danh quyền lực.

Vì trách nhiệm trước quốc dân đồng bào mà Người gánh vác trọng trách này, chỉ với mục đích là làm hết sức mình để có thể phụng sự được nhân dân, theo một “ham muốn” thật đặc biệt:

“Tôi tuyệt nhiên không ham công danh phú quý chút nào. Bây giờ phải gánh chức Chủ tịch là vì đồng bào ủy thác thì tôi phải gắng sức làm, cũng như một người lính vâng mệnh lệnh của quốc dân ra trước mặt trận. Bao giờ đồng bào cho tôi lui, thì tôi rất vui lòng lui. Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh nước biếc để câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi”.

Trích trả lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên báo Cứu Quốc ngày 21/1/1946.