Doanh nghiệp Việt xuất khẩu trái cây giùm “xứ người”?

Thứ Năm, 19.07.2018, 15:32

Việc nhiều doanh nghiệp Việt có xu hướng nhập hàng từ nước khác về xử lý tạm rồi xuất khẩu, mà không chú trọng nguồn cung nội địa ít nhiều khiến chúng ta phải suy nghĩ.

Số liệu đẹp, nhưng toàn hàng Thái

Nhiều doanh nghiệp Việt nhập hàng Thái về rồi xuất khẩu

Những thông tin về xuất khẩu rau quả nửa đầu năm nay đang mang lại cảm xúc trái chiều trong dư luận. Đã có “người khóc kẻ cười” và “kẻ mừng người lo” khi Bộ Công thương “xuất” tin.

Bộ Công thương cho biết tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả Việt Nam trong nửa đầu năm nay ước đạt 2 tỉ USD, tăng 20,3% so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó riêng kim ngạch xuất khẩu rau quả ước đạt 340 triệu USD, tăng 25% so với cùng kỳ năm ngoái.

Các thị trường xuất khẩu chính đều có kim ngạch tăng khá, dẫn đầu là Trung Quốc với 1,2 tỉ USD, chiếm 74,6% tỉ trọng và đứng thứ hai là thị trường Hoa Kỳ với trị giá 50,9 triệu USD.

Trái cây Việt Nam được xuất sang Trung Quốc chủ yếu là thanh long, dưa hấu và trái vải. Ngay cả trái nhãn của Việt Nam dù rất ngon nhưng đến nay hầu như chưa có ghi nhận số lượng nhãn có xuất xứ Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc qua cửa khẩu Tân Thanh – cửa khẩu truyền thống xuất nông sản nội địa sang Trung Quốc.

Vấn đề ở chỗ, Việt Nam cũng nhập khẩu khoảng 754 triệu USD rau quả, tăng 18,5%, chủ yếu từ Thái Lan (chiếm 45,7% tổng lượng nhập khẩu) và Trung Quốc chiếm 9%.

Cụ thể, số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan cung cấp cho thấy trong 5 tháng đầu năm qua, Việt Nam nhập 266 triệu USD trái cây Thái Lan và xuất sang Trung Quốc là 266 triệu USD.

Theo đó, có 4 loại trái cây Thái Lan được nhập vào thị trường nội địa và 100% được xuất sang Trung Quốc, gồm nhãn tươi (92 triệu USD), sầu riêng (86 triệu USD), măng cụt (56 triệu USD) và nhãn khô (20 triệu USD). Hầu hết số lượng trái cây trên được xuất qua cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị (Lạng Sơn).

Con số kim ngạch xuất khẩu rau quả ấn tượng nhưng chiếm phần lớn trong đó lại là trái cây nhập khẩu rồi mượn đường Việt Nam để xuất khẩu. “Việc doanh nghiệp nhập khẩu trái cây Thái Lan về sau đó bán cho Trung Quốc là việc làm bình thường, không bị pháp luật cấm” – Ông Nguyễn Đình Tùng – Giám đốc Công ty TNHH Vina T&T nói.

Doanh nghiệp lời, nông dân thiệt!

Thực tế, việc doanh nghiệp Việt nhập khẩu trái cây ở nước thứ ba rồi lại xuất khẩu sang Trung Quốc là việc làm bình thường. Hàng tạm nhập tái xuất vẫn được tính vào giá trị kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Những hàng đó không tiêu dùng trong nước, thông qua hoạt động động xuất nhập khẩu doanh nghiệp Việt Nam có giao dịch với bạn hàng, có phần lợi nhuận trong đó, ít nhiều thì tùy theo từng lô hàng, từng mặt hàng.

Trước lo ngại nếu doanh nghiệp Việt Nam quá thiên về hình thức kinh doanh thương mại tạm nhập, tái xuất thì chẳng khác nào đang nuôi dưỡng cho trái cây nước ngoài, PGS.TS Phạm Tất Thắng khẳng định: “Đây là những cú hích quan trọng đối với trái cây Việt Nam. Người nông dân sẽ nhìn vào đó mà thay đổi dần dần để chiếm lĩnh thị trường”.

Đúng là, pháp luật không cấm doanh nghiệp tạm nhập, tái xuất, nhưng đó là dịch vụ của doanh nghiệp bán giùm cho Thái Lan sang Trung Quốc. Doanh nghiệp đóng thuế cho Nhà nước được bao nhiêu trong phần đó là việc riêng, còn Việt Nam xuất khẩu trái cây được mấy tỷ USD thì phải nói rõ bao nhiêu là từ trái cây trồng trên đất nước Việt Nam, bao nhiêu là hàng tạm nhập tái xuất.

Phải rõ ràng thông tin ở chỗ này, bởi trái cây trồng trên đất nước Việt Nam được xuất khẩu có nghĩa là tạo được công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người nông dân, cải thiện sinh kế của họ, như vậy mới có ý nghĩa. Còn tạm nhập, tái xuất chỉ có doanh nghiệp lời được chút tiền mà không giúp ích gì nhiều cho xã hội.

Trong khi nguồn cung các mặt hàng trong nước luôn trong tình trạng cần “giải cứu”

Dừng ở đây, chúng ta thấy trong thời gian qua, dư luận cả nước đã phải chứng kiến những cuộc giải cứu nông sản từ muối, chanh, khoai lang, dưa hấu, hành tím, ổi đến hành tây, thanh long, cà chua,… có loại phải đổ bỏ cả tấn, vô cùng lãng phí. Những giọt nước mắt nông dân mặn chát trên đồng ruộng khiến người đô thị cũng cảm thương.

Vì thế, việc nhiều doanh nghiệp Việt có xu hướng nhập hàng từ nước khác về xử lý tạm rồi xuất khẩu, mà không chú trọng nguồn cung nội địa ít nhiều khiến chúng ta phải suy nghĩ.

Mặt khác, Dự báo, nhu cầu tiêu thụ rau quả trên thị trường thế giới sẽ tăng tích cực. Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO) đánh giá, nhu cầu tiêu thụ rau quả tăng trưởng cao hơn so với sản xuất toàn cầu. Đặc biệt là đối với các sản phẩm chất lượng đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.

Theo Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn, hiện nay cả nước có khoảng 910 ngàn ha cây ăn trái, sản lượng hàng năm khoảng 9,5 triệu tấn quả các loại. Trong đó, đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng trồng cây ăn quả lớn nhất cả nước (chiếm trên 50% diện tích và 60% sản lượng trái cây).

Kèm theo số liệu từ Viện Cây ăn quả miền Nam cũng cho biết, đến nay, đối với quả, đã có 14 ngàn ha sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP hay GlobalGAP với tổng diện tích trên 800 ngàn ha. T

Những con số này rất quan trọng, bởi đã góp phần tạo lòng tin nơi khách hàng thông qua việc tạo ra sản phẩm có chất lượng, an toàn cho người tiêu dùng. Từ đó, sản phẩm rau, quả của Việt Nam đã có mặt ở nhiều thị trường khác nhau, thay vì chỉ đối với khách hàng truyền thống như Trung Quốc. Và một khi thị trường được mở rộng, chắc chắn sản lượng tiêu thụ rau, quả tới đây sẽ tăng lên.

Và như thế, ngành rau quả Việt Nam được đánh giá sẽ rất có tiềm năng phát triển trong thời gian tới. Nhất là khi có sự tham gia nhiều hơn của các doanh nghiệp với công nghệ cao, giống mới chất lượng của các viện nghiên cứu và nông dân áp dụng các quy trình sản xuất tiên tiến. Nhiều chuyên gia kỳ vọng, với đà tăng trưởng khả quan và nhiều tiềm năng thị trường, Việt Nam có thể xuất khẩu rau quả đạt 10 tỷ USD vào năm 2020.

Rõ ràng, việc thống kê chung hàng Thái Lan vào số liệu xuất khẩu rau quả Việt Nam có thể khiến cho số liệu trở nên thiếu chính xác, từ đó ảnh hưởng tới việc Nhà nước hoạch định chính sách phát triển cho ngành nông nghiệp.

“Khi số liệu mập mờ nghĩa là nền tảng để xử lý vấn đề sai và chúng ta cứ bay ở trên mây, nghĩ rằng mình bán trái cây được nhiều USD nhưng thực chất là bán giùm người ta. Trong khi đó, nông dân Việt Nam không được hưởng gì, nông sản Việt còn đang phải bán đổ bán tháo với giá rẻ cho Trung Quốc” – một chuyên gia kinh tế cảnh báo.

Để nước Việt Nam thành nước nông nghiệp hiện đại trong tương lai, không thể một tay phụ thụộc vào sức sản xuất của người nông dân. Và các doanh nghiệp cũng không thể chỉ đơn thuần vì lợi nhuận mà nhập khẩu hàng xứ người này về rồi lại xuất khẩu sang xứ người khác dưới danh nghĩa hàng Việt.

Làm như thế, chẳng khác nào các doanh nghiệp Việt đang làm lợi cho nông dân nước họ, trong khi mọi thiệt thòi nông dân Việt vẫn phải gánh đủ!