Doanh nghiệp nhà nước thua lỗ ở nước ngoài cũng vì sự “cưng chiều” quá mức

Thứ Ba, 29.05.2018, 13:58

Trong kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XIV, sáng ngày 28/5, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Vũ Hồng Thanh đã trình bày báo cáo giám sát về việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước (DNNN) tại doanh nghiệp và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2011 – 2016.

DNNN thua lỗ ở nước ngoài có “xấu mặt”?

Về việc sử dụng vốn nhà nước, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Vũ Hồng Thanh đã báo cáo thẳng thắn nhận định, hiệu quả hoạt động của của DNNN chưa tưng xứng với nguồn lực đang nắm giữ, tổng tài sản và vốn tăng nhưng doanh thu, lợi nhuận trước thuế và nộp ngân sách nhà nước có tốc độ tăng trưởng chậm (bình quân 3%/năm), tổng số nợ liên tục tăng cao (tăng 26% so với năm 2011); doanh nghiệp nhà nước chưa thực sự phát huy được vai trò chủ đạo trong nền kinh tế.

Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Vũ Hồng Thanh tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XIV

Điều đáng chú ý trong báo cáo, đó là chỉ ra hoạt động đầu tư ra nước ngoài của DNNN chưa đạt hiệu quả cao. Cụ thể, tính đến ngày 31/12/2016, DNNN đã đầu tư ra nước ngoài trên 7 tỷ USD, trong đó có 25,5% dự án báo lỗ và 29% dự án lỗ lũy kế.

Trong khi đó, lợi nhuận được chia cho bên Việt Nam năm 2016 là 145 triệu USD, tương đương trung bình với 2% tổng vốn đầu tư ra nước ngoài thực hiện, con số này được đánh giá thực sự là một con số rất nhỏ.

Nhiều dự án đầu tư nước ngoài của DNNN đã cho thấy sự tiềm ẩn rủi ro về pháp lý tại nước sở tại như: bị rút ngắn thời gian triển khai dự án, tranh chấp đất đai, rủi ro thị trường… đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả đầu tư của dự án.

Tính đến tháng 12/2016, Việt Nam có 18 tập đoàn, tổng công ty 100% vốn nhà nước, đã thực hiện 110 dự án với tổng 7 tỷ USD để đầu tư ở nước ngoài. Chủ yếu tập trung đầu tư ở các lĩnh vực viễn thông, thăm do – khai thác dầu khí, trồng cây công nghiệp, khai thác khoáng sản – tài nguyên…

Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) là doanh nghiệp có tổng số vốn đăng ký đầu tư ra nước ngoài nhiều nhất, 6,67 tỷ USD (chiếm 53% tổng đầu tư của 110 dự án); kế tiếp là Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel) 2,12 tỷ và Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam 1,41 tỷ USD.

Trong số các dự án đầu tư kể trên, thì PVN là tập đoàn chiếm vị trí số 1 về giá trị đầu tư và chiến luôn vị trí số 1 về thua lỗ vốn lũy kế, đến hết năm 2016 là 3,74 tỷ USD (chiếm 49% số vốn đầu tư).

Một trong những dự án thua lỗ nhất của PVN là dự án siêu liên doanh 1,8 tỷ USD vốn góp khai thác dầu tại Venezuela; dự án gần 11.000 tỷ đồng vào dự án ở Peru; khai thác dầu khí mỏ Nagumanov tại tỉnh Orenburg (Nga)…

Tổng công ty Cổ phần Đầu tư Quốc tế Viettel (Viettel Global), Công ty con của Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel), cũng thừa nhận khoản lỗ 3.475 tỷ đồng sau thời gian dài đầu tư ra nước ngoài.

Tập đoàn than khoáng sản Việt Nam cũng đã thua lỗ tới 111 tỷ đồng khi đầu tư vào dự án Stung Treng ở Campuchia; 184 tỷ đồng dự án thăm dò mỏ bauxite ở Campuchia; 69 tỷ đồng dự án mỏ sắt Phu Nhuon ở Lào; dự án án 37,9 tỷ đồng vào dự án khai thác muối ở Lào…

Tập đoàn Hóa chất Việt Nam cũng đầu tư khai thác một mỏ muối kali tại Lào với trên 500 triệu USD, nhưng sau khi khởi công năm 2015 đã bị dừng dài hạn và giờ, rơi vào danh sách những đại dự án nghìn tỉ thua lỗ kéo dài.

Tổng công ty Sông Đà và Công ty thủy điện Việt – Lào để thực hiện dự án thủy điện Xekaman 3 tại Lào, số vốn điều lệ là 3.250 tỷ đồng với sự vốn góp của Tổng công ty Sông Đà chiếm 45%, nhưng dự án đã phải dừng vận hành dài hạn vì gặp sự cố.


Dự án thủy điện Xekaman 3 tại Lào do Tổng công ty Sông Đà và Công ty thủy điện Việt – Lào thực hiện

Việc kết quả giám sát cũng cho thấy một số dự án đầu tư ra nước ngoài của DNN đã không đạt hiệu quả, bởi năng lực quản lý và khả năng tài chính vẫn còn hạn chế. Thiếu những cơ chế kiểm soát chặt chẽ, phân tán nguồn lực và ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.

Việc cơ cấu lại một số DNNN làm ăn thua lỗ, thu hồi vốn của Nhà nước từ những dự án đầu tư không hiệu quả cả trong nước lẫn nước ngoài vẫn còn chậm, hậu quả nghiêm trọng. Việc công khai thông tin về DNNN còn hạn chế, không kịp thời, thiếu minh bạch, mang tính hình thức.

Trong tình hình nợ công nước ta đang đạt mức 63,7% GDP, nợ Chính phủ ở mức 52,6% GDP, nợ nước ngoài của quốc gia ở mức 44,3%, nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ là 14,8% tổng Ngân sách nhà nước (theo báo cáo của Bộ Tài chính đến cuối năm 2016).

Thì việc thua lỗ của DNNN lại càng trở thành gáng nặng đối với ngân sách nhà nước, Chính phủ sẽ phải tiếp tục đứng ra bảo lãnh cho các doanh nghiệp vay nợ nước ngoài để đầu tư và đứng ra trả nợ cho doanh nghiệp khi xảy ra thua lỗ.

Ngoài các khoản nợ được bảo lãnh, thì trong thực tế, nhiều những khoản nợ của DNNN dù không được bảo lãnh nhưng vẫn được Chính phủ lo trả nợ thay, do lo ngại làm giảm tín nhiệm quốc gia trên trường quốc tế.

Việc cả DNNN đầu tư ở trong nước hay đầu tư ở nước ngoài liên tục thua lỗ đã khiến ngân sách phải “ôm” một khoản nợ lên đến 1,5 triệu tỷ đồng. Theo báo cáo của Bộ Tài chính, tính đến cuối năm 2015, tổng tài sản của các DNNN là hơn 3 triệu tỷ đồng, trong đó vốn chủ sở hữu là hơn 1,3 triệu tỷ đồng, nhưng tổng doanh thu chỉ đạt 1,6 triệu tỷ đồng.

Nếu tính cả số nợ mà DNNN gây ra, thì nợ công của Việt Nam sẽ lên đến 431 tỷ USD, chứ không chỉ là ở con số 63,9% như Bộ Tài chính đã nêu. Và nếu so sánh với con số nợ công mà Hy Lạp đã gặp phải, thì nước này chỉ khủng hoảng khi đạt đến 216 tỷ USD, tương đương 130% GDP của nước này.

Việc DNNN thua lỗ nói chung, doanh nghiệp đầu tư ở nước ngoài nói riêng, thì nguyên nhân của sự thua lỗ này đều có phần từ vì sự “nuông chiều” của Chính phủ. Vì sự kiểm soát lỏng lẻo, tạo nên những khoảng trống dễ dẫn đến những nhóm lợi ích, hay sự “ưu ái” về mọi mặt, thì các đơn vị chủ quản của DNNN như Bộ, ngành, chính quyền luôn tạo ra những ưu ái đặc quyền cho các doanh nghiệp của mình, như: nguồn vốn, tài nguyên, văn bản pháp lý, nhân lực, đất đai… Vì thế, các DNNN mất đi sự cạnh tranh công bằng với các thành phần kinh tế khác và mất đi sự sáng tạo.

Làm sao để loại bỏ những định kiến không tốt về DNNN

Việc DNNN liên tục làm ăn thua lỗ, thất thoát, những dự án nghìn tỷ đắp chiếu, đã khiến những chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước hoàn toàn phù hợp với con đường phát triển của nền kinh tế Việt Nam, trở thành một sự “kỳ thị”, “hoài nghi” trong nhân dân.

Kể từ khi vụ đại án ở Tập đoàn Vinashin kể từ khi bị phơi bày về những đầu tư trái ngành dẫn đến thua lỗ, mua những tàu, ụ nổ không còn giá trị sử dụng nhưng với giá tiền cao quá mức, lãnh đạo quản lý của tập đoàn trốn tránh trách nhiệm khi sự cố được phát hiện, tình trạng tham nhũng, lãnh phí… ở Vinashin.

Cho đến 12 đại dự án thua lỗ của Bộ Công thương, những dự án đắp chiếu chưa thể đi vào hoạt động, những dự án đội vốn nghìn tỷ… đã làm cho dư luận, nhân dân trở nên thất vọng về sự thất thoát ngân sách nhà nước, những đồng tiền thuế do nhân dân đóng góp.

Đến nay, việc xử lý trách nhiệm của cá nhân trong sai phạm của 12 đại dự án của Bộ Công thương vẫn chưa được xử lý

Đến nay, việc xử lý trách nhiệm của cá nhân trong sai phạm của 12 đại dự án của Bộ Công thương vẫn chưa được xử lý

Cụm từ DNNN thay vì được xem là giữ vai trò chỉ đạo theo Hiến pháp 2013 khẳng định, là niềm tự hào, hy vọng và kiêu hãnh của những thế hệ trước. Thì giờ đây cụm từ này ở trong giai đoạn hiện nay lại trở thành nỗi lo lắng về sự thất thoát lên tới con số hàng ngàn tỷ đồng.

Khi ngân sách nhà nước phải bù đắp cho sự thua lỗ của DNNN, thì việc bổ sung thêm nguồn vốn hiện nay bắt buộc lại chỉ còn được thực hiện ở “sức dân”. Tức là mở rộng, bổ sung thêm các loại thuế, phí đối với mọi người dân, mọi lĩnh vực đời sống. Điều này không những gây nên bất bình trong dư luận, mà còn tạo nên những sức ép vô cùng lớn.

Trong bài phát biểu khai mạc Hội nghị Trung ương 5 ngày 5/5/2017, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng đánh giá: “Không ít DNNN làm ăn thua lỗ, thất thoát, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực với những dự án đầu tư hàng nghìn tỉ đồng “đắp chiếu”, làm trầm trọng thêm nợ xấu ngân hàng và nợ công quốc gia, gây bức xúc trong nhân dân…”.

Không thể phủ nhận vai trò đóng góp của DNNN nhà nước ở hầu hết lĩnh vực trụ cột của nền kinh tế, từ xăng dầu, tài chính, thực phẩm, tài nguyên, viễn thông… DNNN luôn giữ vai trò dẫn dắt, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả nền kinh tế đất nước.

DNNN vẫn được ghi nhận vai trò quan trọng trong Hiếp pháp 2013 “Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo”.

Năm 2017 là năm thứ 7 liên tiếp công bố Bảng xếp hạng FAST500 – Top 500 Doanh nghiệp tăng trưởng nhanh nhất Việt Nam, trong số 500 doanh nghiệp lớn của Việt Nam năm 2017, cho thấy khối DNNN vẫn đang đóng góp doanh thu một nửa trong số bảng tổng sắp, chiếm 52%.

Nhưng việc gây nên sự thất thoát, thua lỗ tài sản nhà nước đã làm cho “sức dân” phải gồng gánh những gánh nặng vô cùng lớn. Để giữ đúng vai trò chủ đạo của nền kinh tế đất nước, DNNN cần phải được cổ phần hóa để mang lại hiệu quả cao, đi đúng định hướng và sức mệnh lịch sử của dân tộc.