Để đặc khu không trở thành nơi “tham nhũng chính sách”

Thứ Hai, 01.01.2018, 10:10

Sau nhiều năm tranh cãi và bị trì hoãn, Quốc Hội cũng đã xúc tiến soạn thảo, lấy ý kiến, chuẩn bị ban hành Luật Đơn vị Hành chính-Kinh tế đặc biệt (ĐVHCKTĐB) để quyết định cơ chế, chính sách cho 3 “đặc khu” dự kiến được thành lập: Vân Đồn (Quảng Ninh), Bắc Vân Phong (Khánh Hòa) và Phú Quốc (Kiên Giang). Mặc dù vẫn chưa có quyết định chính thức nhưng các địa phương này đã và đang ráo riết xây dựng cơ sở hạ tầng nhằm đón đầu chính sách và mời gọi các nhà đầu tư. Tuy nhiên, chỉ như vậy là chưa đủ; để các đặc khu thật sự trở thành “hình mẫu” phát triển, chúng ta cần thiết phải làm cho rõ: xây dựng đặc khu để “thử nghiệm thể chế” hay chỉ đơn thuần là để “kiếm tiền” và vô tình tạo cơ hội cho “tham nhũng chính sách”

Phối cảnh đồ án Đặc khu Kinh tế Vân Đồn (Quảng Ninh)

Phối cảnh đồ án Đặc khu Kinh tế Vân Đồn (Quảng Ninh)

Làm rõ khái niệm

Đặc khu kinh tế (special economic zone) là một khu vực nằm trong lãnh thổ (thường là của một nước) mà luật lệ kinh doanh và hệ thống thương mại được quy định khác với phần còn lại. Các đặc khu kinh tế được thành lập thường hướng tới các mục tiêu như: thúc đẩy tăng trưởng thương mại, đầu tư, tạo việc làm và quản lý hiệu quả, … để từ đó nhân rộng hơn. Mô hình đặc khu kinh tế hiện đại lần đầu xuất hiện trong thập niên 1950 ở các nước công nghiệp, cụ thể là vùng quanh sân bay Shannon ở Clare (Ireland). Trong thập niên 1970, mô hình này trở nên phổ biến và được một loạt các nước công nghiệp mới ở Mỹ Latin (như Mexico, Brazil, …) và Đông Á (Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore) áp dụng, với chiến lược tập trung cho các lĩnh vực sản xuất chế tạo hàng hóa tận dụng nhiều lao động (giá rẻ), phục vụ xuất khẩu. Năm 1979 tại Trung Quốc, ngay sau khi tuyên bố mở cửa nền kinh tế, Đặng Tiểu Bình đã cho thành lập Đặc khu Kinh tế Thẩm Quyến để khuyến khích đầu tư nước ngoài và thúc đẩy sự phát triển công nghiệp ở miền duyên hải Đông Nam TQ. Sau hơn 30 năm, từ một làng chài nghèo khó, Thẩm Quyến đã vươn lên trở thành khu vực phát triển nhất Trung Quốc và là một trung tâm công nghệ toàn cầu với GDP đầu người ước đạt hơn 25.000 USD – ngang ngửa với các đô thị phương Tây.

Khái niệm đặc khu kinh tế tưởng chừng như rất “hàn lâm”, nhưng thực ra đối với nhiều nước như Trung Quốc (đóng cửa suốt thời kỳ Cách mạng Văn hóa), đó đơn giản chỉ là sự học tập thí điểm mô hình “kinh tế thị trường Tư bản Chủ nghĩa” của phương Tây, nhất là Mỹ (nhà nước liên bang bao gồm những quốc gia trong một quốc gia); và để đối chiếu với nền “Kinh tế thị trường định hướng XHCN” mà Đảng Cộng sản TQ chủ trương, rồi từ đó quyết định đi theo mô hình nào.

Thẩm Quyến trước khi Trung Quốc mở cửa và thành lập đặc khu

Thẩm Quyến trước khi Trung Quốc mở cửa và thành lập đặc khu

Tới kỳ tích phát triển thần kỳ, biểu tượng của Trung Quốc

Tới kỳ tích phát triển thần kỳ, biểu tượng của Trung Quốc

Thực tế cũng cho thấy, mặc dù được áp dụng tại nhiều nước nhưng những trường hợp đặc biệt thành công như Thẩm Quyến (Trung Quốc) hay Khu Công viên Khoa học-Công nghệ cao Tân Trúc (Đài Loan) là rất hiếm, đúng hơn là ngoại lệ. Để thành công, các đặc khu cần tận dụng được những lợi thế độc đáo của mình trong việc thu hút nguồn lực như vốn, công nghệ và quan trọng nhất là con người. Thẩm Quyến thành công hơn các khu vực khác trên khắp đất nước Trung Quốc là nhờ vào vị trí nằm sát cạnh Hongkong – trung tâm tài chính hàng đầu thế giới do người Anh dày công xây dựng, giúp họ thu hút được một nguồn vốn đáng kể của thế giới, đặc biệt từ khối tư bản Hoa kiều. Bên cạnh đó, dù không có trường đại học hay cơ sở đào tạo nào đặc biệt nổi tiếng, song Thẩm Quyến lại xây dựng được môi trường tốt, hấp dẫn những nhân tài là hàng triệu các kỹ sư giỏi tới làm việc và khởi nghiệp. Hay như Thượng Hải, nơi này vốn đã là một cửa ngõ quốc tế từ cuối thế kỷ 19 (thị trường chứng khoán lớn thứ 3 thế giới hồi đầu thế kỷ 20), có sẵn nền tảng rất mạnh về tài chính và nghiệp vụ chứng khoán, cho nên khi Trung Quốc mở cửa, đã phát triển mạnh mẽ và nhanh chóng trở nên giàu có. Một điều đáng tiếc rằng khi so sánh với Trung Quốc, Việt Nam không có được những thuận lợi như vậy, chưa kể Chiến tranh Việt Nam kết thúc đã gây chia rẽ và làm tản mác các nguồn lực của đất nước rất nhiều.

Chuyện mới mà cũ ở Việt Nam

Thực tế tại Việt Nam, việc xây dựng các đặc khu kinh tế đã được bàn cả 15 năm nay. Tuy nhiên, trong suốt ngần ấy thời gian, tư duy của chúng ta về vấn đề này vẫn chưa thật sự rõ ràng; tới tận bây giờ vẫn còn nhiều ý kiến trái ngược về nguyên tắc, luật hóa chủ trương, cùng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội nếu có thành lập các đặc khu. Những năm gần đây, khi Việt Nam chính thức trở thành nước có mức thu nhập [đầu người] ở ngưỡng trung bình thấp; tốc độ tăng trưởng chững lại; mô hình phát triển cũ (sau hơn 20 năm Đổi mới) bộc lộ nhiều hạn chế, Nhà nước mới có sự quan tâm đúng mực hơn giành cho các mô hình tăng trưởng, trong đó có ĐVHCKTĐB, được xem như một thử nghiệm để đi tìm mô hình phát triển tốt nhất, bắt đầu từ các khu vực kinh tế ven biển.

Nghị quyết số 11-NQ/TW của Đảng đã xác định: xây dựng một số ĐVHCKTĐB với thể chế vượt trội để tạo cực tăng trưởng và thử nghiệm đổi mới, hoàn thiện tổ chức bộ máy thuộc hệ thống chính trị. Cụ thể, dự thảo Luật ĐVHCKTĐB bao gồm 6 chương với 104 điều, bao quát các vấn đề như: thủ tục đầu tư; chính sách đất đai, thế chấp tài sản trên đất và sở hữu nhà ở; ưu đãi đầu tư về thuế, tiền thuê đất; phát triển các ngành dịch vụ, du lịch; thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao…; bên cạnh thu hẹp các ngành, nghề kinh doanh có điều kiện (còn 108 thay vì 243 điều kiện); gỡ bỏ những hạn chế về thủ tục đầu tư kinh doanh liên quan đến đất đai, xây dựng, môi trường, xuất nhập khẩu, hải quan và lao động để tạo thuận lợi tốt nhất cho các nhà đầu tư. Ngoài ra, Chính phủ cũng chủ trương tạo thuận lợi trong việc tiếp cận đất đai đối với các nhà đầu tư (cả trong và ngoài nước) khi quy định thời hạn sử dụng đất lên tới 99 năm đối với những dự án trong lĩnh vực: khởi nghiệp sáng tạo, y tế, giáo dục, … tại 3 ĐVHCKTĐB. Đặc biệt, người nước ngoài cũng sẽ được cấp phép sở hữu bất động sản (nhà ở, chung cư, khách sạn nghỉ dưỡng, nhà hàng, …) có thời hạn tại các đặc khu, nhưng tỷ lệ sở hữu sẽ bị hạn chế ở mức không quá 30%.

Dự thảo mới nhất của Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt quy định chính sách ưu đãi đầu tư về thuế, tiền thuê đất vượt trội quy định hiện hành

Dự thảo mới nhất của Luật Đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt quy định chính sách ưu đãi đầu tư về thuế, tiền thuê đất vượt trội quy định hiện hành

Nhằm tạo đột phá trong công tác quản trị, Chính phủ cũng đề xuất mô hình đơn vị hành chính không có Hội đồng Nhân dân (HĐND) và Ủy ban Nhân dân (UBND), chỉ có trưởng đơn vị – tức “chính quyền một người” với 116 thẩm quyền (được tự quyết theo quy định) trên 13 lĩnh vực như: tài chính, ngân sách, đầu tư công, đầu tư kinh doanh, quy hoạch, xây dựng, đô thị, nhà ở và bất động sản, tài nguyên, môi trường, giao thông vận tải, công nghiệp, … Dưới trưởng đặc khu sẽ là các cơ quan chuyên môn và bộ máy giúp việc. Đề xuất này, bên cạnh việc nhận được nhiều sự ủng hộ, vẫn còn gây nhiều mối quan ngại về nguy cơ lạm quyền, mất dân chủ, cùng những đe dọa an ninh quốc phòng và đòi hỏi phải có cơ chế giám sát thật hiệu quả.

Đi vào mục tiêu chính

Theo nhiều chuyên gia kinh tế, dự luật mà chúng ta đang soạn thảo giành cho các đặc khu vẫn quá ôm đồm và chưa phân định rõ đặc khu sẽ là nơi thử nghiệm thể chế hay kiếm tiền thông qua việc phát triển và kêu gọi đầu tư trong những lĩnh vực như du lịch, casino hay tài chính, … Vì thế, các chính sách và những ưu tiên đưa ra tại dự luật là chưa rõ và chưa hẳn đã vượt trội.

Để thực sự đột phá, chính quyền hành chính tại đặc khu cần phải được xây dựng vượt lên tư duy thông thường, nếu vẫn áp dụng chế lãnh đạo tập thể như ở các địa phương khác thì rất khó làm việc do có quá nhiều ràng buộc. Theo đó, xây dựng các đặc khu không chỉ đơn giản là chọn lấy một nơi rồi quy hoạch, cơi nới các quy định và xây dựng hạ tầng, kêu gọi các nhà đầu tư đổ tiền vào đó, giải quyết công ăn việc làm cho lao động phổ thông. Quan trọng hơn, Việt Nam muốn có đặc khu thì phải suy nghĩ là mình đang cạnh tranh với những đối thủ khác trong khu vực và trên thế giới. Tức là phải có tư duy đi câu cá lớn, làm sao kiến tạo được các thể chế mở hấp dẫn những nhà đầu tư hạng nhất thế giới tìm đến. Không làm được như vậy, những đồ án được vẽ ra, dù có hoàn hảo đến mấy cũng không thể trở thành hiện thực hay sớm muộn cũng sẽ thất bại.

Trong văn bản của UBND tỉnh Quảng Ninh, chỉ đạo chuẩn bị thành lập đặc khu kinh tế Vân Đồn, đáng chú ý có con số dự báo tăng trưởng có phần quá "lạc quan" và thiếu cơ sở nghiên khoa học về mức thu nhập đầu người, tăng từ 2.273 USD (năm 2016) lên 21.300 USD (năm 2030), gấp gần 10 lần. Chưa một đặc khu nào trên thế giới đạt được tốc độ tăng trưởng "Thánh Gióng" như vậy cả.

Trong văn bản của UBND tỉnh Quảng Ninh, chỉ đạo chuẩn bị thành lập đặc khu kinh tế Vân Đồn, đáng chú ý có con số dự báo tăng trưởng có phần quá “lạc quan” và thiếu cơ sở nghiên khoa học về mức thu nhập đầu người, tăng từ 2.273 USD (năm 2016) lên 21.300 USD (năm 2030), gấp gần 10 lần. Chưa một đặc khu nào trên thế giới đạt được tốc độ tăng trưởng “Thánh Gióng” như vậy cả.

Theo chuyên gia kinh tế Bùi Trinh, đối với 3 đặc khu kinh tế, có những câu hỏi mà chúng ta vẫn chưa giải đáp thỏa đáng như: “Tại sao lại chọn Vân Đồn, Bắc Vân Phong và Phú Quốc? Tại sao lại chọn nhóm ngành này mà không chọn nhóm ngành kia? Tại sao lại mặc định những nhóm ngành lựa chọn có sức lan tỏa tới nền kinh tế trong nước? Nếu chú trọng vào du lịch nghỉ dưỡng, vui chơi, đánh bạc thì sẽ lan tỏa kiểu gì?’’. Tại nhiều nước, khi có chủ trương thành lập các đặc khu kinh tế, họ thường phải nghiên cứu và có những phân tích thật kỹ về ảnh hưởng liên vùng, để xem vùng nào có lợi thế về cái gì; ngành kinh tế nào có độ lan tỏa đến bản thân vùng đó và các vùng khác trên cả nước ra sao; mức độ ảnh hưởng của vùng đó đến nền kinh tế chung thế nào; ảnh hưởng về môi trường đến nội vùng và ngoài vùng tới đâu… Trong trường hợp của Việt Nam, nhiều nghiên cứu tiền khả thi vẫn chưa được các nhà hoạch định chính sách thực hiện.

Vân Đồn đang xây dựng cả sân bay quốc tế và cảng nước sâu riêng, cạnh tranh trực tiếp với địa phương ngay bên cạnh là Hải Phòng (có sẵn cảng và sân bay Cát Bi). Nhiều chuyên gia lo ngại chính sách như vậy sẽ gây phân tán và lãng phí nguồn lực.

Vân Đồn đang xây dựng cả sân bay quốc tế và cảng nước sâu riêng, cạnh tranh trực tiếp với địa phương ngay bên cạnh là Hải Phòng (có sẵn cảng và sân bay Cát Bi). Nhiều chuyên gia lo ngại chính sách như vậy sẽ gây phân tán và lãng phí nguồn lực.

Mặt khác, dự luật xây dựng các ĐVHCKTĐB, nếu được ban hành, cần phải dựa trên những nền tảng căn bản quan trọng, trong đó phải đặt lợi ích cân bằng của các bên, đặc biệt là người dân địa phương. Nhất thiết phải đảm bảo được rằng người dân tại Vân Đồn, Vân Phong, Phú Quốc … sẽ cảm nhận được những lợi ích rõ rệt khi những nơi này trở thành đặc khu, chứ không chỉ riêng các nhà đầu tư. Cụ thể, để có quỹ đất cho đặc khu, chắc chắn sẽ phải thu hồi của dân địa phương, khi đó cần phải quy định giá đền bù bằng hoặc cao hơn giá thị trường. Điều quan trọng hơn là nên có chính sách hỗ trợ chuyển đổi công ăn việc làm, đào tạo và cam kết sử dụng lao động địa phương khi các đặc khu đi vào hoạt động.

Thay lời kết

Cần phải khẳng định lại rằng chủ trương xây dựng các đặc khu kinh tế để thí điểm “thể chế” và “mô hình phát triển” là đúng đắn, đáng nhẽ cần phải được thực hiện từ lâu rồi. Chúng ta đã tương đối chậm chân, nhưng chậm vẫn còn hơn là không làm gì cả. Tuy nhiên, như đã phân tích, chúng ta cần xác định tư duy thật rõ, ngay từ đầu rằng: xây dựng đặc khu để làm gì, nếu không tất cả mãi vẫn chỉ “dẫm chân tại chỗ”. Cái đáng buồn nhất là Việt Nam thường hay dò dẫm, làm cái bóng chạy theo sau các nước, trong đó có Trung Quốc, nhưng cái học của chúng ta thường cũng chỉ rất lượm lặt, làm theo không đến nơi đến chốn, gây ra nhiều hệ lụy hơn là để lại “tiếng thơm”. Và cuối cùng, xin những nhà hoạch định chính sách đừng biến các đặc khu kinh tế ở Việt Nam trở thành mảnh đất cho các hoạt động rửa tiền, đầu cơ, thổi bóng tài sản và lợi ích nhóm kiếm lời.

Từ khóa: