Đặng Huy Trứ và bài học về đạo làm quan

Thứ Ba, 08.05.2018, 13:54

Đặng Huy Trứ (1825 – 1874) làm quan dưới triều vua Tự Đức. Ông vốn là vị quan nổi tiếng với sự thanh niêm và cả sự nghiệp quan trường của mình đều gắn mục đích với canh tân đất nước. Có lẽ trong thời đại phong kiến ông là vị qua duy nhất có quan điểm để dân đói khổ là trách nhiệm của người làm quan, một quan điểm cùng chung tư tưởng với Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi”.

Đặng Huy Trứ vị quan thanh liêm và cuốn sách “Từ thụ yếu quy” 

Từ ngày bước vào trốn quan trường, Đặng Huy Trứ đã ngày càng cho thấy trách nhiệm nặng nề của mình đối với nhân dân, phải lo giải quyết việc liên quan đến đời sống của người dân địa phương, thông cảm với những muộn ngàn nỗi đau khổ mà người dân phải gánh chịu.

Kết quả hình ảnh cho đặng huy trứ

Đặng Huy Trứ không chỉ là một vị quan “chống tham nhũng” mà ông còn là người đầu tiên đưa kỹ nghệ đóng tàu phương Tây du nhập vào Việt Nam.

Ông đã bỏ công soạn ra một bộ sách được xem như là “cẩm nang” của người làm quan. Cuốn sách có tên “Từ thụ yếu quy” có gần 2.000 trang với nội dung chuyên đề về chống hối lộ – tham nhũng. “Từ thụ yếu quy” tức là nguyên tắc chủ yếu trong vệc từ chối và có thể nhận những thứ biếu xén mà người có chức có quyền cần luôn luôn tỉnh táo và biết giữ mình.

Cuốn sashc này có phần nhắc nhở người làm quan rằng, nếu muốn giữ mình trong sạch  – thanh liêm trong bất kỳ thời đại nào, thì cũng phải cảnh giác đối với chuyện quà cáp và hậu quả của nó. Trong cuốn sách của ông, trường hợp không nhận những món quà có giá trị bao gồm 104 trường hợp và có 5 trường hợp nên nhận.

Ngay phần mở đầu lời tựa cuốn sách, ông đã viết: “Trong ba chữ răn mình của nhà quan thì chữ thứ nhất là Thanh. Thanh là liêm khiết giữ mình, không lấy của ai mảy may. Tuy nhiên, là người đã từng lăn lộn trong chốn quan trường gần hai chục năm, nên khi viết “Từ thụ yếu quy”, Đặng Huy Trứ có cái nhìn thật sự thông cảm trước những sự thể khó xử của người làm quan: “Trước chưa làm quan nay ra làm quan, trước địa vị thấp nay địa vị cao, khi giỗ chạp, vai lợn không kín mâm cỗ đâu có thể được? Khi đã có nhân dân, có xã tắc, muốn đi xe nát, cỡi ngựa còm đâu có thể được?…”

Tìm hiểu cuộc đời con người vị quan Đặng Huy Trứ, mới có cái nhìn rộng về ông và trở nên kính trọng và cảm phục con người “vì nước, vì dân” này. Tuy là một mệnh quan triều đình, nhưng từ cả việc làm tới lời nói của ông đều nhất quán với cái tâm – cái đức của bậc thức giả.

Trong quan điểm “quan – dân” của ông, hiếm có người nào lại cho rằng “vì dân, bệ ngọc giải oan khiên”; “dân không chăm sóc chớ làm quan” và “mình thiệt, dân lợi, dân gắn bó/ Đẽo dân, mình béo, dân căm hờn/ Hờn căm, gắn bó tùy ta cả…”. Tương tự như câu ca dân gian truyền tụng xưa nay “Dân thương, dân lập đền thời dân ghét, dân đái ngập mồ chưa tha”.

Đối với Đặng Huy Trứ, để nhân dân đau khổ, thiếu thốn chính là tội lỗi của những kẻ làm quan. Ông từng viết: “Nắng hạn quá lâu là tội người chăn dân. Kẻ chăn dân có tội thì giết, thì phạt, chứ dân có tội gì? Lâu nay lụt, hạn, loạn li, mất mùa, nhân dân gặp mãi tai ương. Sức dân vì thế mà kiệt. Của dân vì thế mà hết. Dân sống trong nước lửa, nhà nhà bỏ đi tha hương. Đứng trước cảnh này, mắt nhìn không nỡ.”

Một lĩnh vực khác, đó là việc liên quan đến tuyển trọng nhân tài cho đất nước, trong khi nhiều kẻ có tiền và có tham vọng muốn làm “phụ mẫu chi dân” nhưng thực chất là “vinh thân phì gia”, tìm mọi cách để mua được chức quan trường. Thì Đặng Huy Trứ lại là người không đi theo con đường “mua quan bán chức” mà ngược lại còn chỉ rõ “”phép thi quý” – tức là phải chọn người thực tài.

Ông đã chỉ rõ, nhưng kẻ hèn kém không học hành mà đi thi liền đỗ; nhưng kẻ không ngay thẳng, nhân phẩm yếu kém đi thi giở trò gian dối… Là những người nếu làm quan thì cả đời chỉ thăng tiến bằng con đường mờ ám, là người chỉ làm hại cho dân chứ không có lợi.

Vậy nên, việc chặt đứt mầm mống tai họa ngay từ đầu ấy, chính là giúp nhân dân phát được một tai ương, hậu họa về sau. Nếu người làm quan nào vì lợi lộc, lễ mọn mà làm cho một kẻ bất tài, thiếu đức đỗ thì chính là một tên đạo tặc trong đám mũ cao, áo dài (chỉ người làm quan).

Những người làm quan “có tâm và có tầm” nay đâu?

“Có chức thì có quyền, có quyền thì có tiền, thế nên người người, nhà nhà đua nhau chạy chức chạy quyền, chỉ có người dân là khổ”; “Chức quyền đi kèm với trách nhiệm. Làm lãnh đạo mà khi về hưu được dân thương dân trọng thì mới nên làm. Còn làm lãnh đạo mà để dân chửi rủa thì nên tự mình biết tự trọng mà rút lui”… Những nỗi niềm ấy được nhắc đi nhắc lại xuyên suốt trong bộ phim Chủ tịch tỉnh, tạo được sự đồng cảm của không ít khán giả về độ thực tế của nó.

Bô phim Chủ tịch tỉnh là một bộ phim nói nên sự chân thực về “đạo làm quan thời hiện đại”. Những tình tiết thời sự, câu chuyện hấp dẫn về một phần của cuộc sống ngoài đời thực đã được lồng ghép vào trong bộ phim, với những tình tiết lắt léo, sinh động và đa chiều về tính cách của nhân vật “cầm quyền”.

Thực tế, tình trạng làm dụng quyền lực để đưa người nhà vào bộ máy nhà nước, để “mua quan bán chức”,… là một tình trạng không hề thiếu trong cuộc sống hiện nay.

Tình trạng cả “họ làm quan” là câu chuyện xảy ra “như cơm bữa” ở một số địa phương, trải dài ở khắp cả nước, từ Kiên Giang; Hà Giang; Hải Dương; Thừa – Thiên Huế; Bộ Công Thương; Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ…

Và mới đây là câu chuyện xảy ra tại huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình, gia đình của Bí thư Huyện ủy – Đậu Minh Ngọc có nhiều anh em, con cháu nắm giữ nhiều vị trí chủ chốt và là cán bộ trong bộ máy của Đảng, nhà nước các cấp.

Ông Đậu Minh Ngọc (SN 1960; quê thôn Thanh Bình, xã Quảng Xuân, huyện Quảng Trạch) giữ chức vụ chủ tịch UBND huyện Quảng Trạch liên tiếp trong 2 nhiệm kỳ trong 10 năm (2005 – 2015) và ông giữ chức Bí thư huyện ủy nhiệm kỳ 2015-2020.

Nắm quyền trong một thời gian dài, có dư luận đã cho rằng ông Ngọc đã đưa rất nhiều họ hàng, người thân, người quen vào làm việc tại các phòng, ban, đơn vị trong bộ máy huyện Quảng Trạch.

Chỉ tính riêng trong lĩnh vực giáo dục của huyện Quảng Trạch, tại Phòng Giáo dục – Đào tạo huyện có 10 biên chế tất cả, 4 lãnh đạo thì có 3 người là người nhà ông Ngọc hoặc vợ ông. Đặc biệt, không hiểu tại sao trên địa bàn có đến 18 người làm hiệu trưởng, phó hiệu trưởng đều thuộc thông Thanh Bình, “hàng xóm” của ông Đậu Minh Ngọc và đều “dây mơ dễ má” với gia đình ông.

Kết quả hình ảnh cho quan tham

Quan tham là gánh nặng kìm hãm sự phát triển của đất nước

Rồi tình trạng khác, như việc cho cán bộ gọi là “đi học tập kinh nghiệm” tại nước ngoài của các địa phương. Trong khi một số cán bộ sẽ về hưu ngay sau đó, nhưng vẫn nằm trong danh sách, đó là bất cập đáng lưu ý. Điều này đặt ra câu hỏi họ được cử đi học tập hay đi du lịch trước khi về hưu?

Năm 2015, trong quyết định 2977/QĐ-UBND Quảng Nam cử đoàn cán bộ đi khảo sát, học tập kinh nghiệm do Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam – ông Đinh Văn Thu ký, nêu rõ: “Đi khảo sát các cơ sở du lịch, dịch vụ, thương mại; học tập kinh nghiệm về công tác quy hoạch, xây dựng các đô thị, khu kinh tế, quản lý du lịch, bảo tồn thiên nhiên tại Nam Phi”.

Điểm đặc biệt đó là trong danh sách có 26 người sẽ đi học tập ở Nam Phi của Quảng Nam, thì có 3 phu nhân của lãnh đạo, có 15 người đã và sắp vê hưu, 8 người còn lại hầu như không ai tái cử trong ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Nam nhiệm kỷ 2015 – 2020 chỉ vì lý do… hết tuổi.

Trả lời vấn đề này trên báo Tuổi trẻ, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam – ông Đinh Văn Thu cho thằng đó là “phải đạo”. Thử hỏi đó là “đạo” gì? Có phải đạo đối với những người trong thời điểm “hoàng hôn nhiệm kỳ”, để họ về nghỉ hưu vui vẻ?

Không chỉ riêng Quảng Nam, mà cùng thời điểm năm 2015, UBND tỉnh Tiền Giang cũng đã ban hành quyết định của cán bộ đi nước ngoài học tập kinh nghiệm về xây dựng các công trình chống nước biển dâng, chống ngập… do tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu do Hà Lan và Nga tài trợ.

Trong đoàn khi đó có 14 lãnh đạo, cán bô và 6 người thuộc doanh nghiệp liên quan tham gia, nhưng những người thuộc doanh nghiệp nếu đi thì sẽ phải trả phí. Trong đoàn có tới 4 cán bộ sẽ thuộc diện nghỉ hưu ngay sau năm đó và những cán bộ khác đều không hề thuộc liên quan gì đến việc xây dựng đê điều, mà lại ở sở công thương, văn phòng UBND, thậm chí là có cả Công ty Xổ số kiến thiết và phó chủ tịch UBND huyện.

Mặc dù không thống kê được số chi phí mất cho việc cán bộ đi “du lịch kết hợp học tập kinh nghiệm” này. Nhưng đây có thể được xem là một lãnh phí vô cùng lớn, không thể đạt hiệu quả cao vì có những người về hưu và những người gần như “không liên quan” đến việc học tập này.

Nếu như ở Thái Lan, năm 2012 nguyên chủ tịch Quốc hội – Somsak Kiatsuranont , bị truyền thông và dư luận chỉ trích vì chuyến tham quan “học tập kinh nghiệm nước ngoài” tại châu Âu cùng đoàn tùy tùng lên đến 39 người thân cận. Chuyến đi kéo dài 10 ngày, tốn kém tới 227.000 USD tiền thuế dân. Thì ở Việt Nam, các quan còn may mắn và “sướng” chán, vì được tiêu tiền thuế dân vào cuộc sống “hương hoa” sau khi đã và sẽ về hưu.

Những người quan chức ngày ngày đứng trước truyền thông rao rảo về đạo đức làm quan, nhưng “Người ta ăn của dân không từ cái gì nữa, từ liều vacxin con con đến tiền chữa bệnh bảo hiểm” – Nguyên phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan từng bức xúc.

Mặc dù bối cảnh lịch sử và xã hội của Đặng Huy Trứ và ngày nay tuy có khác nhau, nhưng với 104 kiểu hối lộ. Thì đã phần nào cho thấy nạn hối lộ – tham nhũng ở thời kỳ phong kiến đã diễn ra trên mọi mặt của đời sống xã hội, từ: giáo dục, chính trị, kinh tế… Bằng nhiều hình thức và thủ đoạn khác nhau mà Đặng Huy Trứ có thể tổng kết, mà chúng ta có thể so sánh được với tệ nạn đó trong cuộc sống hiện nay.

Đọc lại những trang sử cũ của Đặng Huy Trứ, mới càng hiểu thêm về về một con người “có tâm – có tầm” với dân tộc. Một vị quan đúng là “vì dân phục vụ” và thật khó để tìm được một người có đạo đức như ông trong thời đại hiện nay.