“Đằng Giang tự cổ huyết do hồng” người Việt cần phải tự hào về lịch sử dân tộc mình

Thứ Ba, 19.06.2018, 12:17

Báo tiếng dân với mục đích “khai dân trí – xướng dân quyền”, nhưng lại tỏ rõ thái độ hèn nhát, yếu đuối khi có bài viết “Một Việt Nam như bây giờ thì mất nước cũng đáng”. Để ám chỉ sự hèn nhát của quân và dân Việt Nam trước sự bành trướng của Trung Quốc, gây nên nguy cơ mất nước.

Bài viết đã dùng những từ ngữ mang tính hạ thấp giá trị của dân tộc Việt Nam

Tất cả những người Việt khi đọc những dòng tiêu đề bài viết này cũng sẽ có chung tâm lý rất khó chịu, bởi lịch sử dân tộc Việt Nam từ xưa tới nay cha ông ta đã chứng minh cho cả thế giới biết được rằng Đại Việt chưa bao giờ sợ Trung Quốc, dù là cả 1.000 năm hay những đợt tấn công xâm lược của quân giặc phương Bắc.

Lịch sử đã chứng minh và không cần bàn cãi. Những cha ông ta không sợ Trung Quốc, còn trong thời đại ngày nay thì sao? Người Việt có sợ người Trung Quốc hay không?

Trong thời đại hiện đại, kể từ khi nhà nước phong kiến sụp đổ và được thay thế bằng một chính thể nhà nước kiểu mới, nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, quyền lực thuộc về nhân dân.

Thì người Việt không những phải đối mặt với giặc ngoại xâm từ phương Bắc, mà thực tế cho thấy Việt Nam đã phải trải qua 2 cuộc kháng chiến với những kẻ thù có sức mạnh quân sự hàng đầu thế giới.

Sức mạnh đại đoàn kết của dân tộc này chưa bao giờ lớn mạnh đến thế, để bảo vệ được nền độc lập của dân tộc, Việt Nam đã phải đánh đổi biết bao xương máu của bao nhiêu thế hệ, lớp lớp cha ông “lớp cha trước, lớp con sau. Đã thành đồng chí, chung câu quân hành”.

Để chiến thắng vĩ đại ở Điện Biên Phủ không những ghi vào lịch sử dân tộc Việt Nam, mà còn là một mốc son rực sáng nhất trong thế kỷ XX “lừng lẫy 5 châu, chấn động địa cầu”.

Để rồi tiếp đó là Đại thắng mùa Xuân năm 1975, đẩy lùi giặc Mỹ ra khỏi lãnh thổ, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước có ý nghĩa lịch sử trọng đại.

Nếu nói đến sợ Trung Quốc, thì trong chiến tranh biên giới năm 1979, Việt Nam cũng đã chứng minh cho cả thế giới thấy được Việt Nam là quốc gia yêu chuộng hòa bình và “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy” (Tuyên ngôn độc lập – Hồ Chí Minh).

Khi ngăn chặn được nguy cơ xâm lược của Trung Quốc và phá hủy cả âm mưu dùng độc tài Pol Pot để gây sự với Việt Nam ở biên giới Tây Nam.

Kể từ sau chiến tranh biên giới 1979, Việt Nam đã luôn có thái độ nhường nhịn, thậm chí đã luôn nhẫn nhục trước những lần Trung Quốc ra các chiêu bài đánh vào kinh tế, chính trị… Đó là những hành động từ việc Trung Quốc cho quân và dân lấn từng mét đất trước khi cắm mốc, cho tàu biển đâm và gây hẫn với các tàu cá của Việt Nam đang khai thác trên ngư trường thuộc chủ quyền Việt Nam,…

Đỉnh cao của những trò gây hấn đó là Trung Quốc đã gây ra cuộc chiến chiếm đảo Gạc Ma năm 1988 ở Trường Sa, hạ sát 64 người bính công binh Việt Nam.

Có thể nói, kể từ sau năm 1945 đến nay, Việt Nam chưa từng có một ngày nào được bình yên đối với giặc phương Bắc cả về trên đất liền với trên biển. Nếu Việt Nam là một quốc gia sợ hãi, hèn nhát trước Trung Quốc, thì chắc chắn sẽ không có sự kiện 180.000 quân Việt Quốc, Việt Cách bị đẩy một cách đầy tài tình ra khỏi lãnh thổ nước Việt; Việt Nam sẽ chùn bước trước cuộc chiến Biên giới 1979 và không có trận chiến ác liệt tại Vị Xuyên (Hà Giang); Sẽ không có sự kiện 64 chiến sĩ Gạc Ma phải đứng thành vòng tròn bất tử để bảo vệ lá cờ cắm trên chủ quyền;…

Trận Bạch Đằng được ghi bởi công lao của nhà Ngô, nhà Lê và nhà Trần, nơi quân giặc phương Bắc phải trả giá đắt cho hành vi ngang ngược xâm lược của mình

Bài viết “Một Việt Nam như bây giờ thì mất nước cũng đáng” có một tư tưởng thiểu cận quá mức, khi nói rằng lực lượng quân đội Việt Nam đang rất yếu đối trước nguy cơ xâm lược và bành chướng của Trung Quốc

Bài viết còn có ý nói về việc Việt Nam rất ít khi lên án Trung Quốc và luôn cho thấy hành động mang tính chất “bật đèn xanh” của nhà cầm quyền cho doanh nghiệp Trung Quốc làm ăn ở Việt Nam.

Bởi thật ra, nếu như một Trung Quốc bây giờ có gây sự bằng sức mạnh quân sự với Việt Nam, thì chắc chắn sẽ chẳng bao giờ có chuyện Việt Nam sẽ yếu đuối và quy phục. Chẳng bao giờ lịch sử sẽ lặp lại Hán gian Mạc Thúy đã đem 10.000 quân theo, dâng địa đồ, chỉ đường cho quân Minh; sẽ chẳng bao giờ có một bản hiệp ước bán nước nào cho Trung Quốc, chứ đừng nói là như 4 bản Hiệp ước 1862, 1874, 1883, 1884 của nhà Nguyễn…

Trong bối cảnh hiện nay, vì mục tiêu ổn định hợp tác và phát triển, đưa đất nước được sống trong một thời đại thanh bình và người dân hoàn toàn ấm no, hạnh phúc, nên dù có xảy ra những mâu thuẫn với Trung Quốc thì việc giữ hòa khí là cần thiết.

Trong quan điểm lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ta, những người lãnh đạo luôn phải mềm dẻo để giải quyết được câu hỏi: Ai la “bạn”? Ai là “đối tác”? Là “đối tượng”?. Chứ không thể cứng nhắc mà cho rằng phải xác định: Ai là bạn? Ai là thù?, giống như kiểu xác định kẻ thù vậy.

Vì xã hội luôn tồn tại song hành với những thế lực tiến bộ và khác quan điểm, lập trường. Một quốc gia đâu chỉ sống dựa vào nền nông nghiệp chính là lúa gạo, mà không hợp tác với các quốc gia khác để đổi lấy bơ, phô-mai, sữa tươi, tiền tệ…

Hội nghị trung ương 8 đã ban hành Nghị quyết số 28-NQ/TW, ngày 25/8/2013, về chiến lược bảo vệ tổ quốc trong tình hình mới, trong đó có nêu:

““Vận dụng đúng đắn quan điểm về đối tác, đối tượng: Những ai tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác; bất kỳ thế lực nào có âm mưu và hành động chống phá mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng của chúng ta. Mặt khác, trong tình hình diễn biến nhanh chóng và phức tạp hiện nay, cần có cách nhìn biện chứng: trong mỗi đối tượng vẫn có thể có mặt cần tranh thủ, hợp tác; trong mỗi đối tác có thể có mặt mâu thuẫn với lợi ích của ta cần phải đấu tranh”.

Trên con đường hội nhập và phát triển như hiện nay, Việt Nam luôn định hướng “mềm dẻo” trong xây dựng quan hệ ngoại giao với các nước để mang lại sự hưng thịnh và hòa bình cho đất nước

Đây là bài học vô cùng quý giá trong suốt 2.000 năm qua của cha ông ta, về việc “đối nhân xử thế” với các quốc gia láng giềng, để tránh phải đổ máu, gây ra ảnh hưởng đến quốc gia. Đúng như Nguyễn Trãi đã từng viết: “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn/ Lấy chí nhân để thay cường bạo” – Bình ngô Đại cáo.

Tuy nhiên, giữ hòa khí không thể được hiểu theo nghĩa thiểu cận kiểu “sợ hãi”, “nhẫn nhục”.

Về vụ việc giàn khoan HD-981 khi mà Trung Quốc đưa đến Việt Nam, hạ đặt trái phép trên thềm lục địa Việt Nam, thì Trung Quốc phải cần tới 137 tàu các loại để bảo vệ, trong khi Việt Nam chỉ có 62 tàu cũng đủ gây sự ảnh hưởng.

Với tất cả các loại tàu tuần tiễn tấn công nhanh, tàu tên lửa, tàu quân sự, tàu vận tải… mang tính áp đảo, vượt trội, để bảo vệ giàn khoan trái phép của mình. Điều đó chứng tỏ thấy Trung Quốc cũng có phần sợ lực lượng đấu tranh của Việt Nam.

Từ xưa tới nay, điểm yếu chí mạng của Trung Quốc qua hơn 15 triều đại phong kiến của nước này (kể từ thời nhà Hán), thì Việt Nam là điểm yếu của Trung Quốc. Chỉ có Việt Nam mới xóa bỏ được “đêm trường trung cổ” với 1.000 năm Bắc thuộc, đánh bại được những lực lượng đội quân hùng mạnh nhất của Mông – Nguyên, Lý Thường Kiệt mang quân đánh thành Ung Châu, quân Tống chất cao như núi, sứ giả Giang Văn Minh ở chính ngay đất Trung Hoa đáp câu đối “Đằng Giang tự cổ huyết do hồng” khiến vua Minh khiếp sợ; chỉ có quân và dân Đại Việt mới khiến nhà Thanh khiếp vía vì “Đánh cho để dài tóc/ Đánh cho để đen răng/ Đánh cho nó trích luân bất phản/ Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn/ Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ”…

Vậy nên, không có gì khiến quân đội và Nhân dân Việt Nam phải sợ các thế lực từ Trung Quốc, việc không dùng sức mạnh quân sự, không dùng các phương thức quân sự để giải quyết tình hình. Là điều mà Việt Nam đang hướng đến một đất nước hòa bình, không lặp lại những cuộc chiến tang thương, xung đột đãm máu. Nhưng điều đó cũng không đồng nghĩa với việc, Việt Nam “khoan nhượng” để Trung Quốc muốn làm gì thì làm.

Một dân tộc đã “đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy” bằng một cuộc kháng chiến chống Pháp – trường kỳ, lâu dài, toàn dân, toàn diện, tự lực cánh sinh và dựa vào sức mình là chính.

Thì điều đó đã khẳng định chắc chắn rằng, dân tộc Việt Nam tuy nhỏ bé nhưng chưa bao giờ yêu hèn. Việt Nam kiên quyết bảo vệ chủ quyền, giữ vững môi trường hòa bình, tình hữu nghị, nhưng cũng sẽ “không đánh đổi chủ quyền lấy hữu nghị viển vông”.

Vì đất nước và chủ quyền dân tộc, Việt Nam sẽ kiên quyết giữ cho kỳ được nền độc lập đó

Cuối cùng, xin trích câu nói của Nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trong làm việc tại Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển Việt Nam và Kiểm ngư Việt Nam sáng 1/7/2014. Ông nói: “Chúng ta kiềm chế không phải nhu nhược, yếu hèn, mà thể hiện thái độ hoà hiếu, chính nghĩa với mục tiêu là bảo vệ bằng được chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ. Trung Quốc và thế giới cần hiểu điều đó”.

Từ khóa: