Đặc khu và tư duy Thánh Gióng

Thứ Năm, 07.06.2018, 13:37

Muốn phát triển, người Việt Nam cần sớm từ bỏ thói thích “ăn xổi ở thì” hay chỉ lập kế hoạch dựa trên “giấc mơ” mà thiếu đi tính thực dụng.

Các nhà hoạch định và điều hành của Việt Nam đang sống bằng tư duy Thánh Gióng

Sau khi trở về với Trung Quốc Đại lục (1997), để giao lưu kinh tế, Hongkong đã thành lập một khu công nghiệp lớn nằm ngay bên cạnh Thẩm Quyến, khá xa so với trung tâm thành phố; và hiện đang được nâng cấp để trở thành Khu Hợp tác Công nghiệp Dịch vụ hiện đại Liên Hải Thẩm Quyến – Hongkong, dự kiến sẽ hoàn tất vào năm 2020.

Tại nhiều nước phát triển, các khu công nghiệp lớn hay được đưa ra thật xa vì là nguồn phát sinh ô nhiễm. Ngoài ra, thường chỉ ở những nơi đất xấu, địa hình không thuận lợi cho việc khai thác các lĩnh vực khác thì người ta mới tính đến phương án xây dựng khu công nghiệp. Cũng bằng tầm nhìn thực dụng ấy, ông Trần Bá Dương – Chủ tịch Tập đoàn Ô tô Trường Hải (THACO) – đã chọn vùng Núi Thành (Quảng Nam) để đầu tư khu phức hợp chế tạo xe hơi thuộc hàng lớn nhất Đông Nam Á, với tham vọng biến nơi này trở thành một Detroit và khá thành công.

Tuy nhiên một nghịch lý là, có vẻ như tại Việt Nam, phần lớn chúng ta lại thích đi “ngược đời” so với thế giới, khi rất nhiều đất vàng (đất nông nghiệp phì nhiêu, màu mỡ) lại bị thu hồi để làm khu công nghiệp, với những lý do như vị trí tốt, giao thương thuận tiện, hay phù hợp để thu hút đầu tư, … Thực tế thì hiệu quả từ chính sách như vậy vẫn chưa thấy rõ, song tỷ lệ người thất nghiệp trong khu vực nông nghiệp đang gia tăng đến mức báo động, mang đến nhiều nguy cơ như đe dọa an ninh lượng thực, hay kéo theo hàng loạt vấn đề xã hội khác. Vì thế, bây giờ mới có chuyện muốn lấy 10 hecta đất lúa thì phải xin ý kiến của thủ-tướng.

Các mô hình đặc khu kinh tế (SEZ) đã được hình thành và phát triển ở nhiều quốc gia trên thế giới từ vài chục năm về trước, mục tiêu là để tạo ra những khu vực mở, ít chịu sự ràng buộc bởi hệ thống các quy định hành chính chồng chéo và tạo nhiều ưu đãi (về thuế, giá thuê đất, chi phí giao dịch, hạn ngạch, hải quan, quy định lao động) để thúc đẩy hợp tác kinh doanh, đầu tư, kiến tạo việc làm, cũng như nâng cao hiệu quả quản lý. Thậm chí, các SEZ còn được xem là phòng thí nghiệm thể chế đối với các nền kinh tế chuyển đổi, từ đóng kín sang mở cửa thị trường và hội nhập quốc tế – điển hình là bài học thành công đặc biệt của Trung Quốc.

Năm 2015, tờ Economist đã có một loạt bài phân tích về triển vọng của mô hình đặc khu kinh tế và cho rằng những SEZ này thực chất “chẳng có gì đặc biệt” (not so special) bởi có tới ba phần tư các nước trên thế giới áp dụng (với con số lên đến hơn 4300 SEZ). Ngay đến Nhật Bản, chính sách của Thủ tướng Shinzo Abe (Abenomics) đưa ra từ năm 2014 cũng đề cập tới SEZ như một giải pháp trong hàng loạt những nỗ lực để vực dậy nền kinh tế vốn đang bị suy trầm quá lâu.

Nhìn chung, sự ra đời của các SEZ thường dựa trên cùng một mô típ: nhà chức trách chọn một khu đất, gọi tên đó là đặc khu kinh tế, rồi ban hành những quy định ưu đãi về thuế, đất đai, thủ tục thông quan để mời gọi các nhà đầu tư và rồi kỳ vọng nó sẽ biến thành một Thẩm Quyến mới, hay thậm chí là Silicon Valley. Nếu vấn đề đơn giản như vậy thì có lẽ thế giới đã tràn ngập các nền kinh tế thịnh vượng và khoảng cách phát triển giữa các quốc gia cũng không ngày càng bị kéo giãn. Tuy nhiên, thực tế không phải lúc nào cũng toàn màu hồng, khi mà các SEZ ở châu Phi đang tràn ngập phân voi nhưng vắng bóng các nhà đầu tư, hay ngay đến Ấn Độ cũng “xót xa” chứng kiến hàng trăm SEZ thất bại. Thứ nữa, những nỗ lực để phát triển SEZ cũng phải trả giá bằng chi phí cơ hội không hề nhỏ liên quan đến tình trạng thất thu thuế trong nhiều năm liền, hay chính sách ưu đãi quá mức cho các SEZ cũng gây méo mó nền kinh tế, chưa kể còn tạo điều kiện cho rửa tiền, tham nhũng đất đai và chính sách nếu quản lý không hiệu quả.

Thẩm Quyến là một đặc khu hiếm hoi thành công trên thế giới, nhờ có những lợi thế đặc biệt, nhất là nằm ngay cạnh HongKong

Cũng theo Economist, có ba nguyên nhân cốt lõi dẫn tới nguy cơ thất bại của các SEZ. Thứ nhất, những ưu đãi, dù trên bất cứ khía cạnh nào thì cũng không tránh khỏi phải sử dụng ngân sách hoặc ảnh hưởng tới ngân sách. Thứ hai, đó là áp lực xây dựng cơ sở hạ tầng, nhất là khi các đặc khu thường được chọn đặt ở nơi chưa có hạ tầng hoàn thiện, đồng bộ. Thứ ba, và có lẽ cũng quan trọng nhất, đó chính là các cam kết nới lỏng về mặt quản lý thường chỉ mang tính “khẩu hiệu” chứ trên thực tế thì các cơ chế – chính sách vẫn không có nhiều thay đổi.

Trông người ngẫm đến ta

Việt Nam đang đứng trước thềm của cuộc Cách mạng 4.0, giao thương chủ yếu diễn ra trên mạng Internet. Cái chúng ta cần bây giờ là cơ chế chính sách chung để giao lưu hàng hóa dịch vụ thuận lợi, vị trí bây giờ là toàn cầu, không cần khu vực riêng như 20-30 năm trước nữa. Nhiều người nói là dù trâu chậm uống nước đục nhưng thà có tý nước đục còn hơn không, nhưng thời đại 4.0 làm gì còn nước đục mà uống.

Như Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Kim Ngân phát biểu: “Một đồng rót vào đặc khu để hút về hàng chục, hàng trăm đồng”. Cá nhân người viết nghe thấy có đôi chút “lạc quan thái quá”, bởi lẽ nếu dễ dàng vậy thì trong hơn 30 năm mở cửa vừa qua, xứ sở này đã sớm thành rồng thành hổ Châu Á rồi, chứ đâu cần vẫn phải ngửa tay xin viện trợ như bây giờ.

Chúng ta đang hô hào cách mạng 4.0, vậy mà phần đông vẫn cứ ôm mãi tư duy khoanh vùng đắc lợi, giữa lời nói và hành động là cả một sự mâu thuẫn rất lớn. Lợi ích thì chưa thấy đâu, nhưng chỉ thấy trong đợt sốt đất cát vừa rồi, không ít kẻ đã kiếm được một mớ tiền để mua nhà ở xứ “tư bản giãy chết”, hay nhiều vị cũng đã sẵn sàng dọn ổ “sẵn sàng chuồn khi có biến”, còn quốc gia – dân tộc thì chẳng thu được lợi ích gì, vẫn loay hoay ngập ngụa trong khó khăn, và đi đến đâu cũng phải mở mồm hỏi vay ODA – vì đâu nên nỗi?

Cần trả lời câu hỏi: xây đặc khu là để phát triển hay để bán đất và đánh bạc?

Về lý thuyết kinh tế, chẳng có giáo sư Nobel kinh tế nào chứng minh được tại sao các doanh nghiệp Việt Nam (như Vin Group, FLC, Sun Group) lại có thể lớn nhanh như Thánh Gióng, chỉ trong vòng vài ba năm mà doanh nghiệp có vốn vài tỷ đã được thổi lên đến vài chục ngàn tỷ, cũng như các nhà quy hoạch hàng đầu thế giới cũng chẳng hiểu tại sao một dự án sau khi điều chỉnh có thể tăng giá trị lên gấp vài chục lần được.

Các chính sách kinh tế được ban hành, trong đó có thành lập các đặc khu kinh tế, cũng không thể tách rời khỏi bối cảnh kinh tế – chính trị của quốc gia. Xét trên khía cạnh lịch sử, đặc khu ra đời khi các nước cần một mô hình đột phá để mở cửa và tăng tốc hội nhập với kinh tế thế giới. Còn đối với Việt Nam hiện nay, khi kim ngạch ngoại thương đã vượt mức 400 tỷ USD năm 2017 (bằng 200% GDP và độ mở chỉ đứng sau Singapore tại Đông Nam Á) thì phương án trên xem ra không cần thiết và cũng không còn phù hợp. Vấn đề cốt lõi phải nằm ở cải cách nền tảng thể chế sâu rộng và toàn diện. Và nếu các đặc khu, cuối cùng vẫn được thành lập, thì cần mang trong mình tầm nhìn của Thẩm Quyến, Thượng Hải hay Singapore, … chứ không phải chỉ như Bắc Ninh, Đà Nẵng, Bình Dương hay Vĩnh Phúc; và đặc biệt là cần lấy con người làm trung tâm để những cá nhân ưu tú chuyển tới sống, làm việc, sáng tạo và hiện thực hóa “ước mơ” dựa trên chính sách khuyến khích và dung nạp, chứ không phải tới để “buôn đất”, “nghỉ mát” và “đánh bạc”

Nhưng điều đau khổ nhất, đó là dường như những người đang nắm trong tay vận mệnh đất nước vẫn đang không muốn từ bỏ tư duy theo lối trưởng thành theo kiểu Thánh Gióng.