Công tác cán bộ hướng tới kế thừa Luật Hồi Tỵ – Tại sao không?

Thứ Hai, 14.05.2018, 14:24

Theo Ban soạn thảo Đề án Trung ương 7, Đại hội XII về công tác cán bộ, đến nhiệm kỳ 2020-2025 sẽ thực hiện dứt điểm chủ trương Bí thư cấp ủy tỉnh, cấp huyện không phải là người địa phương trên toàn quốc.

Cán bộ không phải là người địa phương bước đột phá trong công tác cán bộ

Một trong những giải pháp đột phá trong công tác cán bộ những năm tới là thực hiện triển khai nhất quán chủ trương Bí thư cấp ủy ở tỉnh và huyện sẽ không là người địa phương, mà sẽ khuyến khích thực hiện đối với các chức danh khác, nhất là chức danh Chủ tịch UBND. Nội dung của chủ trương này nhận được sự ủng hộ khá cao tại Hội nghị Trung ương 7, khóa XII.

Theo đánh giá của Ban soạn thảo Đề án Trung ương 7, về công tác cán bộ hơn 3 nhiệm kỳ qua tỷ lệ Bí thư Tỉnh ủy, Thành ủy không phải là người địa phương chưa nhiều. Tuy nhiên, kết quả này việc thực hiện chủ trương này là hoàn toàn đúng đắn và đạt được hiệu quả.

Luân chuyển cán bộ không phải là người địa phương sẽ là một bước tiến quan trọng

Tại các hội nghị, hội thảo góp ý cho Đề án Trung ương 7 về công tác cán bộ, hầu hết các Bí thư Tỉnh ủy đều đã đánh giá tốt và đồng quan điểm thực hiện nhất quán cả chức danh Bí thư cấp ủy và Chủ tịch UBND cấp tỉnh, huyện không phải là người địa phương.

Trên thực tiễn cũng cho thấy, những cán bộ không phải là người địa phương cũng có nhiều ưu điểm và thuận lợi hơn trong cong tác cán bộ. Nhất là han chế được tình trạng người nhà, người thân vào làm việc trong cùng đơn vị, giảm được tình trạng “lợi ích nhóm” và hạn chế hoạt động kinh tế – xã hội ở địa phương.

Theo Ban soạn thảo Đề án, mục tiêu đặt ra là đến năm 2020, sẽ cơ bản bố trí Bí thư cấp tỉnh, cấp huyện không là người địa phương. Nhiệm kỳ 2020-2025 sẽ thực hiện dứt điểm chủ trương này trên toàn quốc.

Theo đó, Ban tổ chức Trung ương và Ban Tổ chức cấp ủy sẽ phải nhanh chóng, kịp thời, quyết tâm và tham mưu cho cấp ủy các cấp. Bộ Chính trị, Ban thường vụ các tỉnh sẽ phải xem xét, đánh giá toàn thể đội nghũ cán bộ trong quy hoạch dự nguồn để xem xét, chuẩn bị nhân sự để bố trí, phân công.

Việc thực hiện này sẽ được tiến hành ngay sau khi có Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7, bắt tay ngay vào việc sắp xếp, tính toán phương án nhân sự. Có thể đến Đại hội sắp tới, có cán bộ vẫn được bầu ở địa phương, nhưng sau Đại hội sẽ được luân chuyển để thực hiện chủ trương của Đảng.

Việc bố trí nhân sự phải được thực hiện trên tinh thần xem xét, lựa chọn và bố trí chặt chẽ. Để lựa chọn những người có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, để gánh vác trách nhiệm và hoàn thành nhiệm vụ được Đảng và Nhân dân giao phó.

Tiêu chuẩn về cán bộ, đặc biệt là cán bộ cấp chiến lược hiện nay có yêu cầu là những cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp trên phải được trải qua quá trình lãnh đạo ở cấp dưới.

“Công tác cán bộ” của thời kỳ phong kiến qua Luật Hồi tỵ

Trên thực tế, thì đây không phải là lần đầu tiên việc cần phải thay đổi công tác cán bộ, lãnh đạo cấp tỉnh, huyện không phải là người địa phương cần được thực hiện. Việc thay đổi đề án này cũng được nhân dân có nguyện vọng kể từ khi tình trạng các quan chức có người nhà, người thân làm được cơ cấu vào bộ máy nhà nước theo “đúng quy trình”.

Trước đây, trước thông tin hàng loạt người thân của ông Triệu Tài Vinh – Bí thư Tỉnh ủy Hà Giang đã được bố trí vào nhiều vị trí lãnh đạo tại các cơ quan địa phương gây nhiều ý kiến tranh cãi. Mặc dù được Bí thư Tỉnh ủy Hà Giang cho rằng, việc bố trí vợ, em trai, em gái, em rể… là “đúng quy trình”, nhưng điều này dư luận vẫn không khỏi ngờ vực băn khoăn.

Về triết lý Hồi tỵ – tránh đi, được xem là khởi nguồn từ sự nghiệp cải cách nền hành chính quốc gia toàn diện và sâu sắc của vua Lê Thánh Tông – vị vua đứng đầu thể chế quân chủ phong kiến và trị vì đất nước suốt 38 năm (1460 – 1497).

Với quan điểm: “trăm dân là nguồn gốc của trị, loạn. Quan có đức, có tài thì nước trị. Quan vô đức, kém tài là thềm, bậc dẫn đến hoạ loạn”. Vua Lê Thánh Tông đã sáng suốt đặt trọng tâm của sự nghiệp cải cách hành chính vào lĩnh vực cải cách thể chế và đội ngũ quan lại.

Sau 26 năm trị nước, với kinh nghiệm trong suốt quá trình lãnh đạo đó, vua Lê Thánh Tông đã đặt ra chế độ hồi tỵ để sửa đổi công tác cán bộ và tuyển dụng quan lại phong kiến vào hoạt động lãnh đạo đất nước. Trong suốt 11 năm sau đó, vua Lê Thánh Tông vẫn tiếp tục bổ sung và từng bước hoàn thiện nội dung này

Nội dung cơ bản của chính sách hồi tỵ giai đoạn này có thể được tóm tắt ở một số nội dung chính sau:

Không được bổ nhiệm một viên quan về cai trị huyện hoặc tỉnh mà ông ta xuất thân từ đó.

Không được bổ nhiệm một viên quan tới nơi ông ta có người họ hàng tại nhiệm ở vị trí lãnh đạo.

Trong thời gian trị nhậm tại một tỉnh hoặc một huyện, một viên quan không được cưới vợ, lấy thiếp là người của địa hạt đó.

Một viên quan không được phép tại vị quá lâu ở cùng một địa phương hoặc cùng một viện, bộ chức năng.

Cuộc cải cách nền hành chính quốc gia đầu tiên có thể được xem đó là từ dưới thời vua Lê Thánh Tông, kể từ khi Luật Hồi tỵ được ban hành.

Không những trong Luật Hồi tỵ mới có quy định này, mà ngay cả trong bộ Lê triều Hình luật (Luật Hồng Đức) có quy định: “Quan lại không được lấy vợ, kết hôn, làm thông gia ở nơi mình cai quản; cũng như không được tậu đất, vườn, ruộng, nhà ở nơi mình làm quan lớn, không được dùng người cùng quê làm người giúp việc”.

Không chỉ có riêng triều Lê có tư tưởng tiến bộ thực hiện chủ trương này, mà sau đó khi triều Nguyễn nắm ngôi quân chủ, vua Minh Mệnh – một con người năng động, quyết đoán và đề xuất hàng loạt cải cách từ nội trị đến ngoại giao trong suốt 21 năm trị vì đất nước (1820 – 1841). Cũng đã nhức nhối về tình trạng “các quan chức thông phán, kịch liệt phần nhiều là người địa phương. Do đó, vì tình riêng làng nước, khó lòng khỏi sự tư túi sinh ra nhiều tệ hại”.

Vua Minh Mệnh đã kế thừa những tư tưởng và những kinh nghiệm của vua Lê Thánh Tông để ban hành Luật Hồi tỵ vào năm 1831 và liên tục ban hành, bổ sung về phạm vi, đối tượng mở rộng, các quy định cũng nghiêm minh hơn vào các năm tiếp theo thời Triệu Trị.

Có thể nói, Luật Hồi tỵ thời vua Minh Mạng đã được triệt để, mở rộng phạm vi , đối tượng áp dụng và những quy định mới như:

Quan lại ở các bộ, trong Kinh và ở các tỉnh, huyện hễ có bố, con, anh em ruột, chú bác, cô dì cùng làm một chỗ đều phải đổi đi chỗ khác. Đối với Viện thái y là viện chuyên giữ việc thuốc men, chữa bệnh cần phải cha truyền con nối thì không phải áp dụng Luật Hồi tỵ. Những quan lại, ai quê ở phủ, huyện nào thì cũng không được làm việc tại nha môn của phủ, huyện ấy.

Quan lại ở các nha thuộc phủ, huyện ai là người cùng làng thì phải chuyển đi nha môn khác làm việc. Quan lại không được làm quan ở chính quê hương mình, quê vợ mình, thậm chí cả nơi đi học lúc còn trẻ. Người có quan hệ thông gia với nhau, thầy trò cũng không được làm quan cùng một chỗ.

Đặc biệt, trong luật đã có quy định nghiêm cấm các quan đầu tỉnh không được đặt quan hệ giao du, kết thân, kết hôn với đàn bà, con gái nơi mình làm việc và cấm tậu nhà, tậu ruộng… trong địa hạt cai quản của mình.

Bài học bố trí cán bộ không phải là người địa phương ở Hà Tây (cũ)

Đại hội khóa IX (2000 – 2005) đến nay, Bộ Chính trị – Ban Bí thư đã ban hành nhiều kết luận về việc đẩy mạnh thực hiện luân chuyển cán bộ và chủ trương bố trí cán bộ, lãnh đạo cấp tỉnh không phải là người địa phương.

Cụ thể, sau Đại hội khóa IX, Bộ Chính trị đã thực hiện thí điểm chủ trương luân chuyển, bố trí 6 chức danh cán bộ của tỉnh Hà Tây (cũ) không phải là người địa phương, bao gồm: Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND, Giám đốc Công an, giám đốc Sở Kế hoạch và đầu tư, Sở Tài Chính và Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân.

Cần phải cấm “ngặt” việc bổ nhiệm người nhà, người thân vào cùng cơ quan

Tỉnh Hà Tây lúc đó được đánh giá là địa phương có nhiều thuận lợi, nhưng kinh tế phát triển chậm, có biểu hiện trì trệ, không ổn định, tình hình an ninh – trật tự trở thành vấn đề nóng, nhất là tình trạng khiếu kiện đông người, vượt cấp, và chống người thi hành công vụ liên tiếp xảy ra ở một số nơi.

Hiệu lực bộ máy chính quyền, vai trò chi bộ, Đảng bộ, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể cũng hoàn toàn không hiệu quả, thậm chí là nhiều nơi đã trở thành vấn đề nóng an ninh nông thôn. Vì vậy, niềm tin của nhân dân vào cấp ủy Đảng và lãnh đạo địa phương đã giảm sút.

Việc luân chuyển 6 chức danh cán bộ không phải là người địa phương đã tạo ra phong trào, khí thế mới. Đât là cơ sở để địa phương thực hiện luân chuyển, thay đổi đội ngũ cán bộ cấp huyện, xã… Việc lựa chọn trong lần thí điểm này đã được thực hiện một cách chặt chẽ. Những cán bộ có năng lực, triển vọng đã được lựa chọn và đạt được hiệu quả công việc cao.

Sau một thời gian thực hiện việc luân chuyển cùng lúc 6 chức danh tại địa phương, ngay sau đó đã đạt được nhiều kết quả tốt hơn. Đặc biệt, tình hình mất ổn định, trì trệ trong phát triển kinh tế – xã hội của Hà Tây đã được tháo gỡ.

Cách đây hơn 60 năm, trong Thư gửi các đồng chí Bắc Bộ viết ngày 01/3/1947 ngay từ những ngày đầu bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thẳng thắn phê bình, kiểm thảo “những đồng chí còn giữ thói một người làm quan cả họ được nhờ, đem bà con, bạn hữu đặt vào chức này việc kia, làm được hay không, mặc kệ. Hỏng việc, Đoàn thể chịu, cốt cho bà con, bạn hữu có địa vị là được”.

Bố chí, luân chuyển cán bộ theo Đề án của Ban soạn thảo, Hội nghị Trung ương 7, trong giai đoạn mới hiện nay là một trong những bước tiến quan trọng. Điều này sẽ giảm được tình trạng người thân, người nhà, “lợi ích nhóm” cùng lãnh đạo ở địa phương.