Còn gì tự hào nếu một ngày chúng ta “ăn hết” tài nguyên của con cháu?

Thứ Hai, 07.05.2018, 14:04

Nhìn mình mà nghĩ đến con cháu, tài nguyên thiên nhiên dần cạn kiệt, rừng biển dần ô nhiễm, rừng dần bị chặt phá… Tài nguyên đâu phải là chỉ riêng của thế hệ chúng ta hiện nay, mà con cháu và những thế hệ về sau đó cũng là chủ nhân và cũng có quyền dự phần vào di sản chung của quốc gia ấy.

Tài nguyên thiên nhiên dần cạn kiệt và môi trường đối mặt với ô nhiễm

Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, trong 6 tháng đầu năm 2016, khu vực có đóng góp quan trọng trong tăng trưởng GDP là công nghiệp đang có sự tăng trưởng chậm lại – với mức tăng trưởng 6,82%, thấp hơn nhiều mức tăng trưởng 9,66% so với cùng kỳ năm trước.

Tăng trưởng công nghiệp trong 6 tháng đầu năm 2016 giảm sâu chủ yếu là do sự suy giảm của chính ngành công nghiệp khai khoáng ở cả 3 lĩnh vực chính đó là than, dầu và khí.

Tổng cục Thống kê (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) công bố báo cáo kinah tế – xã hội năm 2017. Thì ngành khai khoáng giảm 7,1%, làm giảm 0,54 điểm phần trăm của mức tăng chung và đây là mức giảm sâu nhất từ năm 2011 trở lại đây. Do sản lượng dầu thô khai thác giảm hơn 1,6 triệu tấn so với năm trước; sản lượng khai thác than chỉ đạt 38 triệu tấn, giảm hơn 180 nghìn tấn so với cùng kỳ.

Tài nguyên thiên nhiên ở Việt Nam đang ngày càng một cạn kiệt vì khai thác quá mức

Sự sụt giảm của ngành khai khoáng ở Việt Nam hiện nay không phải là do hoạt động sản xuất kinh doanh yếu kém, mà chủ yếu là do nguồn tài nguyên ngày càng khan hiếm ở cả 3 nguồn chính đó là than, dầu và khí.

Về khai thác dầu thô, năm 2015 sản lượng đã khai thác được là 16,7 triệu tấn (cao hơn 2 triệu tấn so với kế hoạch đề ra). Năm 2016, sản lượng dầu thô đạt khai thác 14,02 triệu tấn và năm 2017 dự kiến chỉ đạt 13,28 triệu tấn.

Khai thác dầu thô được Tổng cục Thống kê cho biết đây chỉ là giải pháp tạm thời, sản lượng dầu thô mỗi năm sẽ giảm, càng về sau càng giảm về sau và dự kiến đến năm 2035 thì dự kiến nguồn dầu thô sẽ cạn kiệt. Nếu tính đến phương án phát triển lâu dài thì phải đẩy mạnh các lĩnh vực khác bao gồm chế biến, chế tạo…

Chiếm 60% sản lượng khai thác dầu khí của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) từ trước tới nay chủ yếu ở mỏ Bạch Hổ – mỏ dầu dầu khi lớn nhất cả nước đang trong tình trạng suy kiệt và có thể ngừng khai thác trong 4 – 5 năm tới đây.

Còn đối với than, từ năm 2014 trở về trước Việt Nam là nước xuất khẩu than lớn trong khu vực Đông Nam Á. Riêng năm 2011 Việt Nam xuất khẩu tới 17 triệu tấn than với giá trị 1,6 tỷ USD, năm 2012 là 15,2 triệu tấn, 2013 là 12,8 và năm 2014 sản lượng giảm xuống chỉ còn 7,2 triệu tấn.

Đến năm 2015, Việt Nam dù vẫn xuất khẩu than, nhưng có một nghịch lý khác đó là lần đầu tiên Việt Nam phải nhập khẩu tới 500.000 tấn than và con số này dự kiến sẽ tăng lên trong thời gian tới.

Việc sản lượng than đá xuất khẩu trong nhiều năm gần đây giảm bắt nguồn từ chủ trương sản lượng hạn chế xuất khai than của Chính phủ, nhằm bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia và một phần từ nhu cầu sử dụng trong nước đã tiệm cận với giá trị trường thế giới.

Nhìn lại cuộc đổi mới từ năm 1986 đến nay, một thực trạng đau lòng đã diễn ra khắp nơi, chúng ta đã khai thác, buôn bán tài nguyên quốc gia một cách ồ ạt và thiếu sự kiểm soát chặt chẽ. Tổng thu nhập GDP của đất nước đều có sự góp phần lớn của việc xuất khẩu tài nguyên mà có, còn hàng hóa sản phẩm mang hàm lượng chất xám cao chiếm tỉ lệ thì vô cùng nhỏ.

Về tài nguyên rừng, diện tích rừng dù được ghi nhận là có tăng lên, nhưng chất lượng rừng lại trở thành vấn đề cần được bàn tới. Năm 1945, diện tích rừng cả nước được ghi nhận là 14,3 triệu ha, thì đến năm 1995 do rừng tự nhiên bị lấn chiếm, chuyển đổi mục đích sử dụng và khai thác quá mức, nên diện tích rừng cả nước chỉ còn 8,25 triệu ha. Riêng trong giai đoạn từ năm 1975 đến năm 1995 diện tích rừng tự nhiên của cả nước giảm 2,8 triệu ha.

Thiếu cơ chế quản lý nên những cánh rừng tự nhiên cũng dần bị chặt hạ

Số lượng diện tích rừng bị giảm nhiều nhất là ở khu vực miền Trung, Tây Nguyên và một số tỉnh Tây Bắc. Đây là một vấn đề rất nghiêm trọng đối với Việt Nam, bởi trong thời gian tới chúng ta có thể phải đối mặt với những đợt thiên tai và hiện tượng thời tiết cực đoan như: EL Nino, La Nina gây ra với tần suất ngày càng nhiều và khốc liệt.

Hình thể núi sông Việt Nam vốn dĩ hùng vĩ bao nhiêu, thì bây giờ lại trở nên nham nhở vì bị “xẻ thịt” bấy nhiêu. Những hình ảnh vệ tinh về tài nguyên rừng, khoáng sản,… được báo chí thế giới công bố về sự đổi thay đó cho thấy thân hình đất nước đang trở nên xác xơ, nham nhở.

Đã rất nhiều lần chúng ta nhận ra rằng, chúng ta đã có thời gian quá tự hào vì khoáng sản trong nước đã được tung hô bởi thành tích “sản lượng khai thác và xuất khẩu năm nay cao hơn năm trước”. Mà để giờ đây ngồi “buồn thủi” với nhau, khi những cái đáng tự hào đó dần mất đi và dần trở thành khó khăn cho chính chúng ta.

Nước là loại tài nguyên vô cùng quý giá của con người, nhưng cũng đang bị xâm hại một cách nghiêm trọng. Không có gì là lạ khi tất cả các con sông đều đang “chết dần” vì sự ô nhiễm từ chính chất thải của con người, từ khu công nghiệp… chưa qua xử lý đều thải trực tiếp ra sông. Mạch nước ngầm cũng đang dần xuống thấp vì sự khai thác vô tội vạ.

Việc phát triển thủy điện quá mức dẫn đến sự thay đổi của dòng nước, mực nước từ miền núi xuống đồng bằng bị thay đổi đột ngột. Đã dẫn đến những tình cảnh “được mùa lúa úa mùa cau” – tức là khi mùa khô các vùng đồng bằng cần nước sản xuất nông nghiệp, thì các nhà máy thủy điện lại ngừng xả nước vì mục tiêu phát triển điện. Còn vào mùa lũ, khi thượng nguồn trở nên nhiều nước thì các nhà máy thủy điện đồng loạt xả nước để tránh tình trạng vỡ đập. Vậy nên, nhiều trường hợp vì nhà máy thủy điện xả lũ đột ngột mà người dân “không kịp trở tay” phải sống chung với những đợt lũ lụt lên tới 5 – 6 mét nước.

Tài nguyên đã cạn vậy nên cũng đừng cạn “sự học”

Nhật Bản vố có những ga điện ngầm chằng chịt như mạng nhện nằm trong lòng đất, có những nhà ga sâu tới 4 -6 tầng ngầm và rộng hàng hecta. Nó như một thế giới nằm sâu trong lòng đất với đầy đủ các tiện tích, dịch vụ…

Họ sẵn sàng làm các công trình hiện đại ở dưới lòng đất với kinh phí tốn kém gấp hàng chục, hàng trăm lần làm trên nền đất. Bởi vì họ muốn giữ những cánh rừng, những cái mà thuộc về tự nhiên, có tuổi đời hằng trăm năm.

Người Nhật sẵn sàng bỏ tiền túi để mua gỗ, mua tre về làm nhiên liệu, chứ họ không chấp nhận lấy cái sẵn có ở trong nước. Người Nhật sẵn sàng ở trong một khu đô thị chật hẹp, những ngôi nhà có lối thiết kế nhỏ gọn, để dành vốn đất cho việc xây dựng những công viên ở mỗi quận/ thành phố. Ở Nhật thừa rất nhiều miếng “đất vàng”, nếu mang bán đẻ kinh doanh thì con số sẽ vô cùng lớn. Nhưng bởi vì sao họ không làm thế? Câu trả lời sẽ vô cùng ngắn gọn nhưng ý nghĩa tới muôn đời sau: Bởi vì họ để dành cho thế hệ mai sau.

Cách đây 6 năm, phiên thảo luận “Người trẻ và sự học” diễn ra vào năm 2012 tại TP.HCM do chương trình Hạt giống lãnh đạo IPL tổ chức đã thu hút được đông đảo bạn trẻ, sinh viên ưu tú của các trường đại học lắng nghe các chuyên gia chia sẻ về việc học hành.

Chuyên gia kinh tế Bùi Văn ví von: “Tôi không dám đại diện cho cả thế hệ chúng tôi. Nhưng cá nhân tôi thấy: thế hệ chúng tôi đã hút gần hết dầu, đã đào gần hết than, đã dùng lưới cào và thuốc nổ khai thác hết cá ở biển, từng đi chặt rừng để bán sang Nhật.

Như vậy, cái chúng tôi để lại cho thế hệ sau là gì? Là hết than, hết dầu, hết cá, hết rừng nhưng tôi rất tự hào về cái đó. Bởi vì chúng tôi để lại cho thế hệ trẻ một con đường duy nhất là phải học là không còn dựa vào tài nguyên thiên nhiên nữa. Đó là điều mà tôi tự hào để lại cho thế hệ sau”.

Nghĩ đến thế hệ sau, đất đai rừng biển núi sông này đâu chỉ của riêng thế hệ chúng ta, mà còn của cả thế hệ mai sau và thế hệ chưa ra đời đều có quyền được hưởng một phần tài nguyên đó. Không có gì là vô tận, vì vậy nếu khai thác quá mức chúng ta sẽ phải hổ thẹn vì bán rẻ tài nguyên và ăn hết cả phần của những thế hệ tương lai sau này.

Nguồn lực lớn nhất mà chúng ta có thể để lại đó chính là nguồn lực về con người. Những thế hệ người trẻ hôm nay phải tự tin, học cách ứng xử linh hoạt trong một thế giới mới, thế giới không thể dựa vào tài nguyên mà có những đồng tiền. Một nền giáo dục hiện đại sẽ tạo nên những dòng tiền mới, được tạo nên từ sự văn minh, từ nền giáo dục quốc gia.