Chúng ta có cần sợ ba nhà máy điện hạt nhân của Trung Quốc?

Thứ Hai, 28.05.2018, 11:47

Hiện Trung Quốc đã hoàn thiện và vận hành 3 tổ hợp điện hạt nhân tại khu vực Đông Nam nước này, sát biên giới Việt Nam, khiến không ít người dân, nhất là tại miền Bắc, cảm thấy bất an do lo ngại về những rủi ro, thậm chí thảm họa trong trường hợp những nhà máy này bị rò rỉ.

Vị trí ba nhà máy điện hạt nhân của Trung Quốc, gần biên giới Việt Nam

Cụ thể, 3 lò phản ứng này của Trung Quốc nằm ở Phòng Thành (Quảng Tây), công suất 1000 MW, Trường Giang (Quảng Đông) 600 MW, và Sương Giang (đảo Hải Nam) 650 MW. Nhiều ý kiến bi quan cho rằng, nếu 3 nhà máy này gặp sự cố, các tỉnh phía Bắc, trong đó có Thủ đô Hà Nội sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề do bụi phóng xạ, và nguy cơ phát tán có thể gây ô nhiễm không khí, ô nhiễm nguồn nước – viễn cảnh khá giống với châu Âu sau thảm kịch Chernobyl 1986, thậm chí trong nhiều năm liền, dân các nước láng giềng của Ukraine còn không dám uống sữa và ăn thịt gia súc từ những cánh đồng cỏ của họ. Chưa kể, có người còn nói Trung Quốc cố tình đặt 3 nhà máy ở vị trí hiểm yếu như trên là để đe dọa Việt Nam.

Rõ ràng, những lo lắng như trên là hoàn toàn chính đáng, đòi hỏi chính quyền, thông qua các cơ quan chức năng như Bộ chủ quản về Khoa học công nghệ, cần xây dựng phương án và kịch bản ứng phó chi tiết trong trường hợp xấu nhất, đồng thời tham mưu cho các địa phương để làm yên lòng người dân. Như ở Mỹ, dù nguy cơ thủ đô Washington DC bị ném bom hạt nhân là rất thấp (vì chỉ Mỹ mới dám đem bom đạn đi rải ở nước khác mà không sợ dư luận thế giới chứ hiếm khi có chuyện ngược lại), nhưng chính quyền của họ vẫn luôn lường trước cả những tình huống gần như không thể xảy ra ấy, khi mới đây một nhóm nghiên cứu tại Đại học Virginia Tech đã xây dựng một mô hình trên máy tính mô phỏng kịch bản xảy ra một vụ nổ hạt nhân, phá hủy cả thành phố, trong đó có Nhà Trắng – những nghiên cứu như vậy, thoạt nghe tưởng như chuyện khôi hài, nhưng thực sự rất có giá trị và giúp ích nhiều cho các nhà làm chính sách lẫn quy hoạch. Có lẽ, Việt Nam cũng nên có cách tiếp cận như vậy, không chỉ với 3 lò phản ứng của Trung Quốc, mà còn đối với tất cả các vấn đề kinh tế, xã hội, thiên tai, địch họa.

Các nhà khoa học tại Đại học Virginia Tech vừa xây dựng một mô hình máy tính, mô phỏng thảm họa bom hạt nhân lên Thủ đô Washington DC

Được biết, TP. Hà Nội vừa phê duyệt Đề án “Quản lý và giảm thiểu các rủi ro có thể trở thành thảm họa đối với thành phố Hà Nội”, và trong số 10 rủi ro được nêu, sự cố rò rỉ phóng xạ từ ba nhà máy điện hạt nhân ở khu vực Đông Nam, nếu có, là chủ đề rất được thành phố lưu tâm. Đây là chỉ dấu tốt, cho thấy chính quyền đã bắt đầu biết lo xa và lường trước những mối nguy hại liên quan đến an toàn của người dân (lẫn chính họ). Tuy nhiên, việc xây dựng, ban hành và thực hiện chính sách thế nào cho phù hợp thì lại là một câu chuyện khác, cần rất nhiều nỗ lực và sự đồng thuận.

Cần từ bỏ thái độ tự ti và tâm thức nhược tiểu

Theo ý kiến của các chuyên gia về năng lượng hạt nhân, nếu 3 nhà máy điện hạt nhân của Trung Quốc xảy ra sự cố, thì phóng xạ phát tán cũng sẽ chỉ ở mức thấp, không ảnh hưởng đến sức khoẻ con người. Trên thế giới, xác suất gây chết người từ những sự cố rò rỉ nhà máy điện hạt nhân thậm chí còn thấp hơn cả xác suất rơi máy bay, và lại càng nhỏ nêu so sánh với nhiều nguyên nhân khác như chiến tranh, thiên tai, bệnh tật hay tai nạn giao thông, … Vì thế, nguy cơ từ 3 lò phản ứng của Trung Quốc đối với Việt Nam hãy còn quá nhỏ bé so với các hiểm họa khác, mà cụ thể tai nạn giao thông mới là nguyên nhân làm chết người hàng đầu, chắc chỉ sau ung thư.

Trong quá khứ, các thảm họa hạt nhân như tan chảy lõi lò Three Miles Island ở Mỹ năm 1979 hay rò rỉ phóng xạ Chernobyl tại Ukranie (Liên Xô cũ) năm 1986, bên cạnh sai sót trong khâu vận hành, còn là do những hạn chế về mặt kỹ thuật, khiến các thế hệ lò cũ được thiết kế kém an toàn. Còn ngày nay, những sự cố kiểu như Fukushima năm 2011 (nguyên nhân không phải do điện hạt nhân kém an toàn, mà là bởi trận động đất 9,2 độ richte dẫn tới sự xuất hiện của sóng thần – hoàn toàn nằm ngoài dự tính của con người). Cũng sau Fukushima, các quốc gia quan đến điện hạt nhân đều rất chú trọng đến công nghệ và an toàn, trong đó có Trung Quốc – quốc gia có nhu cầu tiêu thụ năng lượng tăng trưởng nhanh nhất thế giới. Bởi vì nếu có thảm họa thì họ mới là nơi hỗn loạn trước chứ không phải chúng ta, cho nên Trung Quốc đã bỏ rất nhiều tiền để nâng cấp, đổi mới và làm chủ công nghệ, nhằm đảm bảo an toàn và hoàn toàn kiểm soát được tình hình.

Thảm họa Fukushima làm chết 20.000 người dân Nhật Bản, nhưng đó là do sóng thần chứ không phải do điện hạt nhân kém an toàn

Việt Nam và Trung Quốc đã có thỏa thuận hợp tác từ năm 2012 trong việc chia sẻ thông tin. Ngoài ra, bên cạnh hoàn thiện và triển khai hệ thống mạng lưới quan trắc cảnh báo phóng xạ môi trường đặt trên lãnh thổ, Việt Nam còn tham gia nhiều Công ước quốc tế như Công ước về an toàn hạt nhân và Công ước cảnh báo sớm – nghĩa là khi có bất kỳ sự cố hạt nhân nào xảy ra thì mạng lưới quốc tế sẽ sớm thông báo trước cho chúng ta, và huy động các chuyên gia cùng nguồn lực tới hỗ trợ xử lý khẩn cấp. Vì vậy, người Việt cũng không cần quá lo lắng và để ba nhà máy điện hạt nhân sát biên giới của Trung Quốc ám ảnh. Thứ nữa, chúng ta cũng nên học thói quen đào sâu, tìm hiểu tận gốc rễ căn nguyên của vấn đề để tránh tư duy theo lối quá thiên về cảm tính.

Cách đây không lâu, khi Trung Quốc đưa vào vận hành nhà máy điện hạt nhân nổi trên biển Đông (về bản chất chính là công nghệ lò phản ứng trang bị trên tàu sân bay, tàu ngầm, tàu phá băng … rất an toàn và sẽ hữu dụng trong việc cấp điện cho các khu vực xa xôi, hẻo lánh như hải đảo) thì đã xuất hiện rất nhiều đồn đại về nguy cơ rò rỉ phóng xạ, bên cạnh động cơ và mục đích của Bắc Kinh, đồng thời các thế lực thù nghịch với chính quyền Việt Nam lại có cớ để xuyên tạc và công kích.

Nhà máy điện hạt nhân nổi của Trung Quốc, hợp tác với Nga. Nga vốn nổi tiếng về công nghệ này trang bị trên các tàu phá băng ở Bắc Cực. Mối quan hệ Việt – Nga rất tốt, nhưng chúng ta đã không biết nắm bắt cơ hội, thậm chí còn có khả năng phát triển kỹ nghệ để bán ra thế giới

Sau cùng, cá nhân người viết cho rằng, Việt Nam không được và không nên sợ Trung Quốc, mà vấn đề quan trọng hơn là chúng ta cần tìm cách, bằng mọi giá phải trang bị và sỡ hữu cho được những công nghệ không thua kém họ, trong đó có nhà máy điện hạt nhân (cả trên cạn lẫn nổi trên biển), và thậm chí là năng lực răn đe. Bằng không, xứ sở này sẽ mãi sống trong nỗi lo sợ và tâm thức tự ti, nhược tiểu – thảm họa còn đáng sợ hơn sự cố hạt nhân gấp ngàn lần.