Chủ nghĩa bảo hộ và những khó khăn đối với xuất khẩu

Thứ Năm, 26.04.2018, 15:00

Xu hướng toàn cầu hóa đã và đang đem lại những thời cơ, những vận hội mới cho nền kinh tế Việt nam, tuy nhiên bên cạnh những thuận lợi đó vẫn đan xen, tồn tại những khó khăn nhất định và trong giai đoạn hiện nay khó khăn lớn nhất đặt ra đó chính là chủ nghĩa bảo hộ đang trỗi dậy tại các thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam khiến cho chúng ta gặp nhiều trở ngại trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa.

Những khó khăn trước mắt từ các chính sách bảo hộ

Vừa qua Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã chủ trì Hội nghị trực tuyến về giải pháp tổng thể thúc đẩy xuất khẩu với sự tham gia của các bộ, ngành, địa phương trên cả nước và các hiệp hội, doanh nghiệp xuất khẩu. Trong Hội nghị, ngoài các báo cáo về tình hình xuất khẩu trong năm 2017 và quý 1/2018 cũng như các đánh giá, dự báo về sự phát triển của các nền kinh tế trong khu vực, thế giới và Việt Nam, có một thông tin rất đáng chú ý được Bộ trưởng Bộ Công thương Trần Tuấn Anh đưa ra, đó chính là việc chủ nghĩa bảo hộ đang xuất hiện trở lại tại các thị trường có kim ngạch xuất khẩu hàng đầu của Việt Nam, tạo ra những khó khăn đối với sản xuất trong nước và gây ra thâm hụt giá trị đối với các mặt hàng chủ lực của chúng ta.

Chủ nghĩa bảo hộ thương mại đang trỗi dậy tại nhiều quốc gia tạo ra không ít khó khăn cho xuất khẩu của Việt Nam

Thật vậy, có thể thấy trong những tháng đầu năm 2018 vừa qua, hàng loạt các quốc gia đã thay nhau đưa ra các chính sách bảo hộ đối với hàng hóa trong nước, khiến cho các sản phẩm xuất khẩu của chúng ta hoặc các quốc gia khác gặp nhiều bất lợi. Cụ thể như việc sau rất nhiều năm Hoa Kỳ lại áp dụng biện pháp tự vệ toàn cầu trong thương mại. Hoa Kỳ sẵn sàng mâu thuẫn với chính mình, thay đổi quy tắc xuất xứ đã được Hoa Kỳ công nhận và duy trì nhiều năm để có thể đánh thuế “chống lẩn tránh” vào tôn xuất khẩu của Việt Nam, không những vậy mức thuế chống bán phá giá cá tra – basa mới được công bố gần đây cũng cao một cách bất thường, nên có thể nói Hoa Kỳ đang bảo hộ quá mức. Một số nước khác thậm chí cũng sẵn sàng vi phạm quy định của WTO để bảo hộ sản xuất trong nước như Indonesia chỉ cho phép nhập khẩu điện thoại thông minh nếu công ty làm ra điện thoại đó cũng có cơ sở sản xuất ở Indonesia, hay Ấn Độ cấm nhập khẩu hạt tiêu nếu giá bán vào Ấn Độ thấp hơn một mức giá tối thiểu do Chính phủ nước này đặt ra.

Giải pháp nào để khắc phục?

Chủ nghĩa bảo hộ đang trỗi dậy tại nhiều quốc gia tiềm ẩn những nguy cơ bất ổn về thương mại, ở tầm vĩ mô nó có thể phá vỡ xu hướng hợp tác bình đẳng giữa các nước, vi phạm các hiệp ước đã ký kết khiến cho các hiệp ước này chủ yếu mang tính hình thức, ở tầm vi mô nó sẽ đe dọa trực tiếp đến những nền kinh tế có quy mô chưa lớn và theo đuổi tự do thương mại, đầu tư như Việt Nam.

Hiện nay mặc dù xu hướng chung vẫn là hợp tác, phát triển, bình đẳng nhưng do ảnh hưởng của những biến động khó lường khi quan hệ ngoại giao, kinh tế giữa các nền kinh tế lớn đang trở nên căng thẳng trong những ngày gần đây, hơn nữa một số nước cho rằng thành quả của toàn cầu hóa không được phân chia đồng đều giữa các khu vực, các nền kinh tế cho nên vẫn tiếp tục sử dụng các chính sách bảo hộ. Do đó Việt Nam cần phải chuẩn bị tâm thế cho mình, chủ động đối phó với những diễn biến rất khó lường từ các chính sách bảo hộ của các quốc gia đó.

Trước hết Chính phủ, các bộ, ngành liên quan cần theo dõi tình hình, dự báo kịp thời và chuẩn bị các giải pháp ứng phó để chủ động với các tình huống, nhằm hướng dẫn, hỗ trợ doanh nghiệp, bảo đảm lợi ích quốc gia, đồng thời thích ứng với xu hướng mới của thế giới. Số liệu thống kê cho thấy, Việt Nam đang ngày càng đối mặt với các vụ kiện phòng vệ thương mại nhiều hơn, trong đó phần lớn là vụ kiện bán phá giá, chống trợ cấp. Điều này phần nào cho thấy, áp lực cận kề và chúng ta phải sẵn sàng có giải pháp để ứng phó với xu hướng bảo hộ thương mại.

Tiếp đến doanh nghiệp phải làm quen với xu thế phòng vệ thương mại, bởi xu thế bảo hộ ở các thị trường nhập khẩu là rõ ràng. Tuy nhiên, theo điều tra mới đây của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam với 1.000 DN thì có đến 63% doanh nghiệp có nghe nói về phòng vệ thương mại nhưng không hiểu sâu. Do vậy, đã đến lúc doanh nghiệp phải thích nghi với xu thế phòng vệ thương mại. Ngoài ra, để có thể đảm bảo rằng việc áp dụng biện pháp tự vệ được thực hiện phù hợp với thông lệ quốc tế và hạn chế rủi ro bị các nước khác khởi kiện, Việt Nam bắt buộc phải có sự đánh giá khách quan và toàn diện về các điều kiện tự vệ.

Hơn nữa các doanh nghiệp sẽ phải nỗ lực cải tổ quy trình sản xuất theo hướng đầu tư công nghệ, sản xuất tiêu chuẩn cao hơn. Việc đáp ứng được các tiêu chuẩn ngày càng cao của thị trường nhập khẩu là vô cùng quan trọng, trong khi đây vẫn là điểm yếu của doanh nghiệp Việt Nam. Sự thay đổi của mỗi doanh nghiệp không chỉ dừng lại ở vấn đề thay đổi quy mô, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của chính doanh nghiệp ấy, mà còn giúp cải thiện ngành sản xuất theo hướng chất lượng hơn, tránh được những tác động từ các vụ kiện.

Bên cạnh đó, chúng ta cần phải chủ động chuẩn bị tìm kiếm thị trường mới. Có thể nhìn thấy, viễn cảnh môi trường bảo hộ thương mại toàn cầu tăng cao, khiến lưu chuyển hàng hóa toàn cầu gặp trở ngại, trong bối cảnh kinh tế thế giới hồi phục yếu. Do vậy, Việt Nam cần nghiên cứu và tìm kiếm các thị trường mới cân đối trong cơ cấu thị trường xuất khẩu, giảm phụ thuộc quá nhiều vào các thị trường lớn và có xu hướng bảo hộ thương mại.

Đối với Việt Nam toàn cầu hóa kinh tế là xu thế tất yếu và chúng ta không thể đứng ngoài vòng quay đó, tuy nhiên trong giai đoạn hiện nay với quá nhiều những biến động từ khu vực và thế giới, chúng ta phải vững vàng, tỉnh táo kịp thời đưa ra những quyết sách đúng đắn để bảo vệ hàng hóa xuất khẩu, nâng cao chất lượng và giá trị đóng góp cho nền kinh tế.