Bộ LĐ-TB, XH và hứa bị “bỏ ngỏ” nhiều năm về Thông tư chống quấy rối tình dục

Thứ Ba, 24.04.2018, 13:55

Không phải lần đầu tiên dư luận dành sự quan tâm về vấn nạn quấy rối tình dục, sau khi một nữa CTV báo Tuổi Trẻ TP HCM tố bị một nhà báo quấy rối tình dục (QRTD). Ở Việt Nam hằng năm liên tục có các cuộc hội thảo, tọa đàm, diễn đàn, tổ chức… nói về tình trạng quấy rối tình dục nơi làm việc, nơi công sở, đối với trẻ em, những người có nguy cơ… và các cách phòng tránh.

Hiện nay tại Việt Nam chưa có số liệu chính xác về quấy rối và lạm dụng tình dục, cũng như về bạo lực tình dục. Theo số liệu Nghiên cứu của Quốc gia về bạo lực gia đình đối với phụ nữ Việt Nam, do Tổng cục thống kê và Liên Hợp quốc công bố năm 2015. Thì tại Việt Nam có tới 58% phụ nữ cho biết đã từng chịu ít nhất một trong ba hình thứ bạo lực thể chất, tinh thần và tình dục trong đời. Khoảng 50% nạn nhân chưa từng nói với ai về tình trạng bạo lực họ phải chịu đựng.

Hệ thống pháp luật Việt Nam quá yếu kém nên lỗ hổng về bảo vệ quấy rối tình dục còn xảy ra

Số liệu từ các nghiên cứu quy mô nhỏ cho thấy 87% phụ nữ và trẻ em gái bị quấy rối tình dục ở nơi công cộng; gần 30% gái mại dâm cho biết họ đã từng là nạn nhân của bạo lực tình dục và 22% đã bị cưỡng ép tình dục; 10% phụ nữ có chồng đã bị bạo lực tình dục từ chồng mình.

Còn về nạn xâm hại, quấy rối tình dục đối với trẻ em, thì theo số liệu từ Bộ Lao Động, Thương binh và Xã hội (LĐ-TB, XH) cho thấy, trong 5 nam từ 2011 đến 2015, cả nước có 5.300 vụ xâm hại tình dục trẻ em. Tính trung bình cứ 8 giờ lại có một đứa trẻ bị xâm hại.

Với các số liệu được đưa ra một cách mơ hồ và vẫn chưa có một nghiên cứu toàn diện nào về tác động hoặc phạm vi của QRTD tại Việt Nam. Thì với tình trạng này, QRTD ở Việt Nam vẫn còn những câu hỏi bỏ ngỏ, nỗi ám ảnh vẫn còn ăn sâu vào tiềm thức và lan rộng.

Nạn nhân của QRTD chủ yếu là nữ giới. Nhưng hiện nay không chỉ là hành động của người nam đối với người nữ, mà tình trạng hiện nay có thể xảy ra ở cả chiều ngược lại, nhiều nam giới đã cho rằng họ là nạn nhân của nữ giới.

Ở Việt Nam, QRTD thường được coi là chủ đề quá nhạy cảm vì xã hội, chúng ta thường có định kiến với nạn nhân bị bạo lực tình dục. Chính nạn nhận nữ có thể sẽ bị đổ lỗi là do lối sống buông thả, nên họ phải giữ im lặng, rất ngại và sợ tố cáo. Họ âm thầm chịu đựng và tìm cách lẩn trốn, chống đỡ một cách chịu đựng với những trận đón của kẻ hám mồi, để mong được giải thoát và bình yên.

Vì nhiều lý do cá nhân mà những bạn nhân bị quấy rối tình dục phải lựa chọn cách im lặng

Một phần của nguyên nhân là từ việc xử lý những vụ việc liên quan đến QRTD ở Việt Nam còn rất rườm rà, nhiều khâu, khó tìm ra bằng chứng… nên kết quả không những không đạt được, mà còn ảnh hưởng đến công việc, gia đình và danh dự nhân phẩm của người tố cáo.

Hệ thống pháp luật Việt Nam cụm từ “quấy rối tình dục” cũng đã được ghi nhận, nhưng không đưa ra bất kỳ một khái niệm nào giải thích hành vi này.

Năm 2012 lần đầu tiên cụm từ “quấy rối tình dục” xuất hiện trong một văn bản pháp luật của Việt Nam, đó là Bộ luật lao động 2012.

Cụ thể, khoản 2, Điều 8 “Cấm ngược đãi người lao động, quấy rối tình dục tại nơi làm việc”; điểm c, khoản 1 Điều 37 quy định người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nếu “Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động”; khoản 4 Điều 182 quy định người lao động giúp việc gia đình có nghĩa vụ tố cáo nếu người sử dụng lao động có hành vi quấy rối tình dục “Tố cáo với cơ quan có thẩm quyền nếu người sử dụng lao động có hành vi ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động hoặc có những hành vi khác vi phạm pháp luật.”

Nhưng khi đưa cụm từ QRTD vào Bộ Luật lao động 2012, nhưng trong đó lại không hề có một khái niệm cụ thể về như thế nào và biểu hiện của QRTD. Đây chỉ được xác định là một hành vi bị nghiêm cấm và là căn cứ để người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng. Ngoài ra, không hề có bất cứ chế tài nào khác để xử lý người có hành vi quấy rối.

Khi một vài dạnh của hành vi QRTD được đặt ra có phải là hành vi vi phạm pháp luật và cần chế tài xử lý như thế nào. Thì Nghị định 167/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh – trật tự, tại điều 53 có quy định hành vi “kích động tình dục hoặc lạm dụng thân thể đối với thành viên gia đình mà thành viên đó không phải là vợ, chồng” có thể nhận mức xử phạt 500.000 ngàn đến một 1.000.000 đồng; một mức rất thấp so với thu nhập vào thời điểm đó.

Phải đến năm 2015, được sự giúp đỡ của Tổ chức lao động quốc tế ILO, Bộ LĐ-TB, XH đã công bố Bộ quy tắc ứng xử về quấy rối tình dục tại nơi làm việc, trong đó định nghĩa “quấy rối tình dục là hành vi có tính chất tình dục gây ảnh hưởng đến tâm lý của nữ giới, nam giới. Đây là hành vi không được chấp thuận, không mong muốn và không hợp lý làm xúc phạm đối với người nhận, tạo môi trường bất ổn, đáng sợ và thù địch”.

Đồng thời liệt kê các hành vi, hình thức QRTD cụ thể như: bằng sự va chạm thể chất, bằng lời nói hoặc bằng một hành vi phi lời nói (ngôn ngữ cơ thể không đúng đắn, thể hiện sự khiêu dâm)… Tuy không phải là một văn bản quy phạm pháp luật, nhưng với sự ra đời của Bộ quy tắc này nó đã được coi như là một nguồn tham khảo đáng tin cậy bởi được công bố do cơ quan cấp trung ương.

Trong Bộ Luật hình sự 2015 (có hiệu lực từ 01/7/2016) mới chính thức ghi nhận một dạng của hành vi QRTD là hành vi phạm tội. Đó là hành vi sử dụng trẻ em dưới 16t vào mục đích khiêu dâm, được quy định tại Điều 147 BLHS 2015.

Như sau: “Người nào đủ 18 tuổi trở lên mà lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc người dưới 16 tuổi trình diễn khiêu dâm hoặc trực tiếp chứng kiến việc trình diễn khiêu dâm dưới mọi hình thức, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm” – một số trường hợp nghiêm trọng hơn có mức hình phạt đến 12 năm tù.

Mặc dù có theo xu hướng chung của quốc tế, Việt Nam đã dần dần có quy định để điều chỉnh hành vi được co là một dạng của QRTD, tuy nó không được diễn tả bằng cụm từ “quấy rối tình dục”.

Nhưng vậy thì QRTD vẫn chỉ được điều chỉnh ở lĩnh vực trong quan hệ lao động, mức án đối với người ép buộc, dụ dỗ người khác trình diễn khiêu dâm… Còn thực tế thì những lĩnh vực khác của đời sống gia đình, trường học, công cộng, trẻ em, nạn nhân là nữ – nam… Là vấn đề cần được quan tâm nhất vẫn còn bị bỏ ngỏ.

Tình trạng quấy rối tình dục nơi công cộng, nơi làm việc, trường học, gia đình… còn thiếu và yếu cơ chế bảo vệ

Còn lời hứa cũng vào thời điểm dư luận và nhân dân đang “khát” một bộ quy tắc chung, bằng văn bản quy phạm pháp luật. Cách đây 3 năm, sau Bộ quy tắc ứng xử về QRTD nơi làm việc, Bộ LĐ-TB, XH đã hứa sẽ ban hành một Thông tư chống quấy rối tình dục vào năm 2016.

Tuy nhiên, lời hứa “nắng hạn gặp mưa rào” này đến thời điểm này vẫn chưa thấy thông tư này xuất hiện. Câu chuyện phải làm sao để phòng, chống QRTD vẫn là phương án lựa chọn riêng của mỗi người và hầu hết thì mọi chuyện vẫn được lựa chọn theo cách “im lặng là vàng”.

Ai ai cũng thừa hiểu rằng, QRTD là hành vi nguy hiểm cho xã hội không chỉ đáng bị lên án về mặt đạo đức, mà còn cần phải bị trừng trị về mặt pháp luật mới thỏa đáng được. Hành vi QRDT không chỉ giống như các hành vi vi phạm pháp luật khác, đó là tiền đề để người phạm tội thực hiện hành vi nguy hiểm cao hơn. Mà nó còn thể hiện tính “thú” thể hiện phần nhục dục của con người, làm mất đi giá trị nhân văn và đạo đức trong đời sống xã hội.

Nếu hành vi này còn tồn tại, kẻ thực hiện hành vi QRTD còn được nạn nhân “bao dung” bởi sự im lặng của họ. Thì quyền con người, quyền bất khả xâm phạm của nạn nhân sẽ còn bị tấn công và phá vỡ bởi chính sự yếu kém của hệ thống pháp luật. Và còn mãi những nạn nhân như CTV vừa qua phải chịu đau đớn tột cùng, đến mức tìm cách tự tử để giải thoát cho bản thân mình…