Bàn về Mại Dâm

Thứ Năm, 13.09.2018, 11:55

Tôi đã nghĩ rất nhiều tiền đề cần phải đặt ra để nói về mại dâm, mà làm sao những điều ấy khi kết lại vẫn thể hiện được tính xã hội đương đại của Việt Nam bằng một cách chân thật nhất. Thật khó để viết và nói, để làm sao cho người khác hiểu mình, cũng như càng khó để phân rõ sự rạch ròi giữa đúng và sai trong một vấn đề.

Có rất nhiều người ủng hộ công nhận mại dâm là một nghề, cũng như không công nhận mai dâm là một nghề ở Việt Nam. Có có rất nhiều quốc gia phát triển ủng hộ về việc công nhận mai dâm là một nghề, nhưng cũng có rất nhiều quốc gia phát triển cũng không ủng hộ điều đó. Để chứng minh cho mọi người thấy, Đức một quốc gia có nền kinh tế mạnh mẽ ở châu Âu đã chối bỏ điều đó. Vậy câu hỏi được đặt ra lý do vì sao được chấp nhận lẫn không? Nó cũng là một tiền đề mà tôi muốn lồng ghép vô để trả lời cho xã hội Việt Nam, ý kiến của tôi mong được độc giả nhìn nhận và mong được phản biện một cách chân thành nhất. Nhiều khi góc nhìn đơn gỉản chúng ta ra nguyên nhân A sẽ dẫn đến kết quả B, mà thật sự thì nguyên nhân D mới dẫn đến điều đó. Bài viết của tôi là đi tìm nguyên nhân D.

Trò bịp bợm mang tên nữ quyền

Tôi cho rằng nhiều người biện minh nữ quyền là một điều hoàn toàn giả dối, việc chúng ta ưu tiên cho nữ quyền đó là chúng ta đang ngầm thừa nhận phụ nữ giới vẫn không bằng nam giới, đó là sự phủ nhận chứ không phải thừa nhận theo cách gọi của những nhà đấu tranh bình đẳng giới hay nữ quyền. Triết gia người Pháp Sartre và người tình của ông là Simone từng cho rằng bình đẳng giới chỉ có ở Chủ nghĩa Xã hội, nên tôi cần phải làm rõ rằng bình đẳng giới và công bằng giới là 2 phạm trù hoàn toàn khác nhau, trò bịp bợm nữ quyền cần phải dẹp đi, vì người phụ nữ không phải sinh ra là phụ nữ, mà “bị” trở thành phụ nữ. Có nghĩa là chính văn hoá, suy nghĩ, giáo dục làm cho xã hội nhận thức như thế, đó là một quan điểm sai lầm. Vì cơ chế sinh học nó chẳng quy định giới tính, mà chính chúng ta quy định về giới tính của mình. Và mại dâm không chỉ tồn tại ở nữ giới mà còn có cả nam giới.

Khái niệm về mại dâm và sự chi phối của hệ hình văn hoá

Văn hoá tình dục không hề giống nhau trên khắp thế giới cổ đại, nhưng nhìn chung văn hoá cổ đại không phải là một văn hoá chủ nghĩa tự do tình dục, hành vi tính dục bị điều chỉnh chặt chẻ bởi những quy tắc luân lý và pháp luật, tôi đề cập tới luận điểm này để chúng ta có một nền tảng đặt câu hỏi mấu chốt về tính dục trong thế giới hiện đại. Vì trước đó một số nền văn hoá cho thấy rằng tình dục là thước đó địa vị của công dân trong chiến tranh và chính trị.

Phụ nữ luôn đó cho là thấp kém hơn so với đàn ông nên tư cách công dân của phụ nữ cực kỳ thấp, chính từ những quan điểm cơ bản đó dẫn đến trường hợp họ coi phụ nữ là công cụ để phục tùng. Vì thế nó tác động đến tư duy hiện nay về mại dâm, điều bất hợp lý đến nhắm vào vấn đề đó để chỉ trích liên quan đến nữ giới, nếu xét một nghĩa trung gian hơn.

Nên bây giờ chúng ta cần phải định nghĩa lại mại dâm là một tình thức, trao đổi thể xác có tính thương mại. Tôi nghĩ đây là một khái niệm đại chúng ta cần cùng nhau xây dựng và mở rộng hơn trong bài viết này. Nhưng ở trong xã hội hiện đại, việc người nam mua bán tình dục, không biết vì lý do gì lại được xem nhẹ hơn, không có sự miệt thị nặng nề như nữ giới. Nên tôi cho rằng hệ hình đã chi phối chúng ta trong cách nhìn nhận. Nói cách cụ thể hơn, triết lý phương Đông của nho giáo, đã làm chúng ta hình thành lên một chuẩn đạo đức, mà thứ đạo đức ấy không thể nói đúng hay sai vì nó thuộc về phạm trù của đạo đức học, mà bài viết này tôi chỉ đi qua một cách khái quát nhất. Sự chi phối của hệ hình mà tôi cho rằng chúng ta cần phải giải phóng nó mới có thể mở rộng cách nhìn về mại dâm.

Sự cấm đoán bắt đầu từ nhà nước

Thực ra mô hình các nhà thổ đã có từ các xã hội cổ đại, vào những thập niên 1980, sự cấm đoán của các nhà nước bắt đầu mở rộng với về kiểm soát về mặt thoả mãn tình dục, khi xảy ra đại dịch AIDS, tuy nhiên cường độ can thiệp của các quốc gia không giống nhau.

Có nhiều vấn đề dẫn đến đại dịch AIDS trong đó có ma tuý, nhưng bài viết này tôi đề cập đến mại dâm, vào giai đoạn đó họ bắt đầu cấm đoán mại dâm và kiểm soát một cách gắt gao. Nhưng theo số liệu thống kê sau 3 năm thì số lượng người nhiễm bệnh không có xu hướng giảm. Một thứ mà tôi cho rằng hiệu ứng cánh bướm để chúng ta nhận thấy rằng. Trong quyển kinh tế học hài hước, tác giả cho rằng việc tỉ lệ tội phạm giảm ở Mỹ 1990 không phải do kinh tế đất nước sau giai đoạn đó tăng trưởng, hay việc cảnh sát được tăng cường mà xuất phát từ việc nước Mỹ hợp thức hoá việc phá thai từ 20 năm trước và điều đó đem lại kết quả là những đứa trẻ chắc chắn được sinh đều được giáo dục nên tỉ lệ tội phạm giảm. Việc hợp thức hoá mại dâm cũng được nhìn nhận như vậy, vì họ không thể cấm được nhu cầu thiết yếu của mình, nên đã có những nước đồng ý việc thương mại hoá mại dâm và có kiểm soát. Ở Nhật Bản hoàn toàn khác, Nhật Bản hợp thức hoá mại dâm về nhu cầu dân số của mình.

Mại dâm và xã hội Việt Nam đương đại

Bây giờ chúng ta đi vào phần trung tâm và cốt lõi để nói về mại dâm ở Việt Nam nên cấm đoán hay không? Xét ở một khía cạnh nào đó chúng ta cần nói về góc độ nào? Bạn là một nhà kinh tế, một người bình thường, một người hoạt động chính trị hay một nhà xã hội học? Tôi tin tuỳ vào góc độ chúng ta sẽ có câu trả lời khác nhau. Việc cấm đoán hay không cấm đoán chúng ta cần hiểu rằng mại dâm ở hàm nghĩa trung tính, có nghĩa là nó không có sự tốt hay xấu, mà do chúng ta quan điểm nó như thế nào.

Việc bạn đồng ý hợp thức hoá mại dâm thực sự có ảnh hưởng đến quyền con người hay không thì tôi đã trình bày ở các luận điểm trên. Và lợi ích của việc hợp thức hoá mại dâm cũng như hệ quả của nó cũng vậy. Chúng ta cần phải xây dựng một nền tảng nhận thức. Mà đa phần ở xã hội Việt Nam đương đại tôi cho rằng chúng ta vẫn còn bị chịu ảnh hưởng nặng nề bởi tư duy nho giáo. Một chuẩn mực mà chúng ta cho rằng là đạo đức và nhận thức giảm tải về vai trò của phụ nữ.

Nhưng việc chúng ta đồng ý hợp thức hoá mại dâm đó vẫn nằm ở khía cạnh lý thuyết xã hội, vì chúng ta thấy rằng ở Việt Nam nếu một công trình khoa học mà không nghiên cứu kỹ về mặt xã hội học khi thực nghiệm bao giờ cũng vấp sự phản kháng của tư duy đám đông. Trong một xã hội phát triển, chúng ta phải có một nền tư duy phát triển tương ứng, mà tôi nghĩ chúng ta cần phải thay đổi nhận thức, khi xã hội đến một mức độ phát triển nhất định thì tất cả sẽ dễ dàng trả lời rất nhiều.

Cuối cùng ta sẽ làm sao khi chúng ta tham gia vào công ước quốc tế việc tôn trọng công ước về quyền con người Việt Nam đã ký tham gia cũng như tôn trọng hiến pháp; loại bỏ khỏi đời sống xã hội những hình thức tổ chức, hoạt động mại dâm trái pháp luật, đặc biệt liên quan đến bóc lột tình dục, buôn bán phụ nữ và trẻ em.