BBT

Nơi lưu trữ những bài viết của các Ban Biên Tập, các bài viết được chọn lựa kỹ càng được lấy từ các nguồn tin đáng tin cậy

AIIB muốn đầu tư vào Việt Nam: Phải rất cẩn trọng!

Thứ Hai, 24.09.2018, 14:52

“Việc AIIB chào mời Việt Nam vay vốn là chuyện của họ, còn nhận hay không là chuyện của phía Việt Nam”.

 

 

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, nguyên Tổng Thư ký – Phó Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), nguyên thành viên Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng thể hiện quan điểm với PV Đất Việt.

PV: Lãnh đạo Ngân hàng Đầu tư cơ sở hạ tầng châu Á (AIIB) vừa có buổi làm việc với Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KHĐT) Việt Nam. Tại buổi làm việc, lãnh đạo AIIB cho biết đang xem xét một số hình thức để hỗ trợ cho Việt Nam trong 3 lĩnh vực ưu tiên là giao thông, năng lượng và phát triển đô thị, đồng thời tìm kiếm những cơ hội hợp tác với các ngân hàng thương mại của Việt Nam.

Thông tin AIIB muốn đầu tư vào Việt Nam được đưa ra trong bối cảnh Bộ KHĐT vừa chỉ ra những hạn chế của nguồn vốn tín dụng ưu đãi của Trung Quốc, qua đó khuyến cáo thời gian tới vay vốn tín dụng ưu đãi của Trung Quốc cần được xem xét, cân nhắc. Đáng lưu ý, ngay từ trước khi AIIB thành lập, nhiều nhà nghiên cứu, chuyên gia kinh tế cũng đã khuyến cáo nên cẩn trọng với vốn vay từ AIIB bởi có thể có “cạm bẫy”.

Theo bà, chúng ta nên nhìn nhận thông tin AIIB muốn đầu tư vào Việt Nam là tin vui hay cần phải cẩn trọng và vì sao?

Bà Phạm Chi Lan: Chuyện AIIB quan tâm tới Việt Nam xuất phát từ thực tế là nhu cầu về vốn để phát triển hạ tầng của Việt Nam đang còn rất lớn. Việt Nam đã công khai bày tỏ nhu cầu đó và cũng đã tính đến các phương án huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau, kể cả nguồn vốn từ bên ngoài cũng như nguồn vốn trong nước thông qua hình thức đối tác công-tư (PPP).

Ngay ở Việt Nam, cơ chế PPP đang được xã hội và Nhà nước quan tâm, yêu cầu phải sắp xếp lại để thực sự đảm bảo lợi ích chung hơn. Thực tế cho thấy, các DNNN đầu tư làm hạ tầng đã có biết bao vấn đề nảy sinh, chẳng hạn như doanh nghiệp được các cơ quan, chính quyền địa phương đồng ý cho dùng đất rất nhiều, trong khi giá trị con đường có thể không bằng giá trị đất.

AIIB muon dau tu vao Viet Nam: Phai rat can trong!

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan Nhiều người thắc mắc những trường hợp như vậy tại sao không đưa ra đấu thầu đất để lấy tiền làm hạ tầng, mà cứ phải giao đất vàng cho doanh nghiệp nào đó rồi từ đó họ làm hạ tầng. Nhưng làm hạ tầng thì nhiều khi chất lượng đường lại không cao, tiến độ kéo dài và khi ấy nhà đầu tư cứ tăng vốn lên, thời gian thu tiền quá lâu, chi phí quá đắt trên những tuyến giao thông mới. Tình trạng đó báo chí đã nói nhiều.

Từ trường hợp trong nước như vậy, càng cần rút kinh nghiệm đối với các dự án bên ngoài đầu tư vào.

Về việc vay tiền Trung Quốc đầu tư làm hạ tầng, Việt Nam đã có những bài học hết sức đắt giá, mà dự án đường sắt Cát Linh-Hà Đông (Hà Nội) là điển hình. Có lẽ một phần từ bài học này mà Bộ KHĐT đã có cảnh báo hết sức đúng đắn rằng phải cẩn trọng khi vay tiền Trung Quốc.

Riêng trong dự án Cát Linh-Hà Đông có thể thấy rõ: số tiền vay ban đầu chỉ 552,86 triệu USD, sau tăng lên mức 868,04 triệu USD, hàng năm Việt Nam phải bỏ ra một khoản tiền cực kỳ lớn để trả lãi. Toàn bộ số tiền vốn đầu tư đó nếu Việt Nam huy động theo một cách khác hoặc chọn nhà thầu khác, chẳng hạn như Pháp – thời gian đó chào hàng với giá đắt hơn khoảng 20% so với Trung Quốc, thì có lẽ Việt Nam đã có tuyến đường sắt đô thị từ lâu mà công nghệ tốt hơn, lại không bị đắt đỏ đến vậy.

Không chỉ Việt Nam mà các nước xung quanh cũng đã có kinh nghiệm đối với vốn vay của Trung Quốc. Sự việc tiêu biểu được báo chí Việt Nam và các nước nói rất nhiều là Sri Lanka vì không đủ khả năng trả tiền vay Trung Quốc đã phải nhượng cảng cho nước này.

Còn nhiều câu chuyện về bẫy nợ của Trung Quốc và nhiều nước đã phải rút lại, không thực hiện tiếp những cam kết với Trung Quốc nữa. Điển hình nhất là việc Thủ tướng Maysia, ông Mahathir Mohamad sau khi lên cầm quyền đã từ chối hai dự án trị giá hàng tỷ USD mà người tiền nhiệm đã chấp nhận làm với Trung Quốc.

Ông cũng đưa ra những quy chế mới nghiêm ngặt hơn như không cho người nước ngoài mua nhà tại dự án bất động sản trị giá 100 tỷ USD ở bang miền Nam Johor do tập đoàn Trung Quốc làm chủ đầu tư để tránh tình trạng Trung Quốc nhân danh đầu tư khu đô thị nhưng rút cục khu đô thị đó lại trở thành điểm di dân mới của người nước ngoài.

Những bài học đó đã quá rõ để cho Việt Nam thấy, vì vậy tôi ủng hộ quan điểm của Bộ KHĐT là phải hết sức thận trọng khi vay tiền của Trung Quốc, kể cả ngân hàng AIIB.

AIIB trên danh nghĩa là có nhiều nước góp vốn vào, trong đó có Việt Nam, nhưng phần tiền lớn nhất vẫn là của Trung Quốc. Vay tiền của Trung Quốc thường đi cùng với thiết bị, công nghệ của Trung Quốc, nhà thầu của Trung Quốc và chủ nhà hoàn toàn bị động, không có khả năng xoay xở được, mà dự án đường sắt Cát Linh-Hà Đông đã cho thấy rõ.

Khi ông Đinh La Thăng mới lên làm Bộ trưởng Bộ GTVT đã tuyên bố: nhà thầu yếu kém, chậm tiến độ sẽ phải thay, nhưng với dự án Cát Linh-Hà Đông, sau này xem các văn bản thì mới thấy nhà thầu thi công, giám sát, cung cấp thiết bị là do bên cung cấp vốn chỉ định, nên khi phía Trung Quốc chỉ định những nhà thầu yếu kém thì Việt Nam vẫn phải chịu và mỗi khi chi phí đội lên Việt Nam cũng phải chịu theo.

Tôi cho rằng không phải phía Trung Quốc không biết mà họ có dụng ý cả. Thành ra, việc AIIB quan tâm, chào mời Việt Nam vay vốn là chuyện của họ, còn nhận hay không là chuyện của Việt Nam, không phải ai quan tâm chúng ta cũng nhận hết.

PV: Trong một bài viết của mình, TS Vũ Quang Việt, người từng là chuyên gia của Liên hợp quốc cho biết, từ năm 2011, Bộ Tài chính chỉ công bố tổng số nợ nước ngoài và đã chấm dứt việc công bố nợ từng nước. Bản tin nợ nước ngoài số 7 công bố năm 2011 cho thấy tổng số nợ của Chính phủ Việt Nam với Trung Quốc tính đến hết năm 2010 lên đến 552 triệu đô la Mỹ và khoản nợ do Chính phủ bảo lãnh là 1,12 tỷ đô la. Như vậy tổng số nợ Trung Quốc tính đến cuối năm 2010 mà Chính phủ có trách nhiệm là 1,64 tỷ đô la.

Thưa bà, con số trên có đáng lo hay không? Nếu Việt Nam tiếp tục vay nhiều từ Trung Quốc liệu có rủi ro hơn các đối tác khác không, vì sao?

Bà Phạm Chi Lan: Ngay bản thân những con số nói trên đã cho thấy nó đáng lo ngại như thế nào. Khi đã vay tiền thì lãi mẹ đẻ lãi con, nhất là vay của Trung Quốc cứ gắn với dự án nọ, dự án kia và liên tục tăng vốn ở những dự án đó.

Nói chung, tất cả những chuyện này phải xem xét thật nghiêm ngặt, kể cả vay trong nước. Tôi thấy có tình trạng đầu tư công nhiều khi “quá xá”, cứ định làm một nhưng thực tế lại đắt lên gấp 2, gấp 3 và tất cả đều có một kiểu “tiểu xảo” nào đó. Khi muốn đầu tư thì người ta chứng minh rằng dự án này chỉ cần số vốn ngần này, hiệu quả kinh tế-xã hội sẽ rất lớn. Thế nhưng khi dự án được phê duyệt thì nó lại kéo dài thời gian, tăng vốn lên một cách vô tội vạ và hiệu quả kinh tế-xã hội của dự án hoàn toàn bị đảo lộn, không như cam kết ban đầu.

Chẳng hạn, một dự án có vốn đầu tư 300 triệu USD thì hiệu quả kinh tế-xã hội còn có thể nói được, nhưng khi nó lên hơn 800 triệu USD thì còn đâu hiệu quả kinh tế-xã hội ban đầu? Với chi phí cao như thế, hiệu quả trở thành cái ngược lại, vay ưu đãi trở thành ngược đãi vì phải hứng chịu tất cả những gánh nặng nợ nần. Gánh nặng nợ ấy không phải chỉ đời chúng ta, mà đời con, đời cháu phải trả, mà gánh nặng nợ quá lớn cho nền kinh tế là điều không thể chấp nhận được.

Việc vay mượn phải hết sức thận trọng, đặc biệt đối với Trung Quốc phải thận trọng gấp đôi, gấp ba, vì thực tế những dự án vay từ Trung Quốc đã cho thấy rõ, không phải chỉ ở Việt Nam mà các nước khác cũng vậy.

PV: Nhiều chuyên gia đã khẳng định, Việt Nam không thiếu các địa chỉ cho vay dù đến nay chúng ta không còn được vay những khoản ODA giá rẻ hay lãi suất 0%. Điều đó có đồng nghĩa với việc Việt Nam có thể tăng quyền mặc cả khi vay vốn không, hay lựa chọn của Việt Nam vẫn chỉ là vay nhiều, đầu tư dàn trải như trước, thưa bà?

Bà Phạm Chi Lan: Chắc chắn là Việt Nam có quyền lựa chọn, không phải chỉ là lựa chọn vay vốn, mà là lựa chọn một cách làm khác, không nhất thiết cái gì chúng ta cũng đầu tư, không nhất thiết cái gì bây giờ cũng muốn làm.

Tôi thực sự sốt ruột khi thấy thời gian gần đây có những đề xuất nào là làm đường bộ cao tốc, đường sắt cao tốc, cảng hàng không… bày thêm bao nhiêu chuyện cùng một lúc. Lấy đâu ra vốn mà cứ muốn làm nhiều như vậy? Phải chăng nó là một dạng của tư duy nhiệm kỳ của những người lãnh đạo cứ muốn cho nhiệm kỳ của mình có được dự án này dự án khác, bất chấp nền kinh tế có chịu nổi hay không.

Điều quan trọng nhất là những người ở những cương vị như vậy phải thấy được rằng nền kinh tế chịu đựng được đến đâu.

PV: Trong trường hợp Việt Nam tiếp nhận nguồn vốn vay từ AIIB, nếu không cẩn trọng và vẫn làm theo cách cũ, hậu họa mà Việt Nam phải gánh là gì, thưa bà?

Và để sử dụng tốt các dòng vốn vay, theo bà, Việt Nam cần rút kinh nghiệm và có chiến lược vay ra sao? Những yêu cầu ấy tại sao cho đến nay Việt Nam vẫn chưa làm được?

Bà Phạm Chi Lan: Chắn chắn Việt Nam sẽ gánh hậu họa nghiêm trọng nếu vay vốn thiếu cẩn trọng. Những người lãnh đạo phải thấy tâm lý trong xã hội Việt Nam đối với các dự án của Trung Quốc như thế nào, đó cũng là một khía cạnh chính trị – xã hội phải cẩn trọng. Đừng để người dân phải có tinh thần cảnh giác cao hơn những người quyết định.

Liên quan đến chuyện vay nợ, tôi phải nói thật rằng xã hội không có quyền lên tiếng được bao nhiêu. Về vấn đề này, tôi cho rằng, về phía Quốc hội, Chính phủ phải có sự nghiêm túc hơn nữa đối với tiền của dân, đừng để đưa ra những dự án lớn như vậy. Không thể để mãi xảy ra tình trạng thấy thuyết trình cái này, cái kia cần, cái gì cũng cần, rồi theo người ta thông qua dự án, rồi nghĩ rằng trong nước không đủ tiền thì đi vay.

Ngay với con đường Bắc-Nam, hãy làm vừa phải rồi những thế hệ có điều kiện tốt hơn sẽ làm tiếp, không nhất thiết cái gì người bây giờ cũng giành lấy làm. Nhiều khi tôi có cảm tưởng họ quyết làm không phải để được việc mà để có dự án trong thời gian nhiệm kỳ của mình, để lại một tên tuổi nào đó. Thậm chí, rất nhiều người, trong đó có cá nhân tôi, nghi ngờ rằng phần lớn những dự án này đi đôi với chút phần trăm nhất định.