75 triệu là “bảo hiểm rủi do” cho đợt huy động 500 tấn vàng và 10 tỷ USD, nên hay không?

Thứ Bảy, 04.11.2017, 13:18

Muốn huy động vốn 500 tấn vàng và 10 tỷ USD từ nhân dân, nhưng bảo hiểm tiền gửi cho số tiền cần huy động lại được thực hiện theo phương thức “cào bằng”, tức là gửi trăm tỷ hay 100 triệu đồng cũng chỉ nhận được 75 triệu tiền bảo hiểm.

Tiền gửi và nỗi lo “cào bằng”

Ngày 16/11, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Lê Minh Hưng là người thứ hai trả lời chất vấn các đại biểu Quốc hội. Trong nội dung phiên họp chất vấn, Thống đốc được yêu cầu nói về việc điều hành chính sách tiền tệ, đảm bảo hỗ trợ sản xuất và tăng trưởng tín dụng; hoạt động của các ngân hàng yếu kém và giải pháp an toàn cho hệ thống ngân hàng.

Nhưng điều mà làm hội trường quan tâm về buổi trả lời của Thống đốc, đó chính là chuyện việc làm thế nào để có thể huy động 500 tấn vàng và 10 tỷ là vốn chết, đang nằm trong dân; Về hạn mức bảo hiểm tiền gửi – nguy cơ rủi ro khi gửi tiền sau khi ngân hàng phá sản chỉ được bồi thường 75 triệu đồng.

Vàng và ngoại tệ nếu huy động được từ nhân dân giúp khơi dậy kinh tế đất nước

Vàng và ngoại tệ nếu huy động được từ nhân dân giúp khơi dậy kinh tế đất nước

ĐB Lê Công Nhường (Bình Định) cũng cho hay, số vốn trong dân là rất lớn. Nếu có chính sách huy động, dân có niềm tin, dân sẵn sàng giúp đất nước vượt qua khó khăn để phát triển. Đại biểu Lê Công Nhưỡng nói:

“Theo dự báo có khoảng 500 tấn vàng và trên 10 tỷ USD đang nằm trong dân. Đây là vốn chết, dân cất giữ vừa không an toàn, vừa không có lợi cho phát triển kinh tế xã hội. Vậy xin hỏi Thống đốc có giải pháp gì để huy động số vốn này trong dân để đầu tư vào sản xuất kinh doanh, đầu tư vào hạ tầng phát triển đất nước. Để huy động, Thống đốc có cam kết bảo đảm quyền lợi của người dân khi phá sản các tổ chức tín dụng mà bảo hiểm tiền gửi chỉ chi trả 75 triệu đồng hay không”.

Vấn đề này không phải là mới, mà đã được nhiều đại biểu đặt câu hỏi. Trong đó, Đại biểu Trương Trọng Nghĩa đưa ra thảo luận ngày 26/10, trong buổi bàn luận về sửa đổi Luật Các tổ chức tín dụng.

Việc “cào bằng” số vốn huy động trong dân đã tạo nên nhiều lo lắng, khi nếu người gửi tiền ở ngân hàng là 100 triệu hay 100 tỷ đồng đi chăng nữa. Thì khi ngân hàng phá sản thì đều chỉ nhận được 75 triệu là bảo hiểm tiền gửi.

Sự thay đổi về bảo hiểm tiền gửi được thay đổi theo Quyết định số 21/2017/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, từ ngày 5-8-2017, hạn mức trả tiền bảo hiểm đã được nâng từ 50 triệu đồng Việt Nam ( quy định tại Nghị định 109/2005/NĐ-CP) lên mức 75 triệu đồng Việt Nam.

Nếu so sánh về bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam và các nước Đông Nam Á, thì hạn mức chi trả Bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam đang thấp nhất về số tiền tuyệt đối. GDP bình quân đầu người Việt Nam năm 2015 gấp 3.02 lần, so với GDP bình quân đầu người năm 2005. Nhưng bảo hiểm tiền gửi vẫn giữ ở mức 50 triệu là con số quá thấp so với nhu cầu thực tế.

Bảng thống kê Bảo hiểm tiền gửi năm 2016 của Quỹ tiền tệ quốc tế

Bảng thống kê Bảo hiểm tiền gửi năm 2016 của Quỹ tiền tệ quốc tế

Đó là chưa kể tính từ Nghị định số 109/2005/NĐ-CP đến trước Quyết định số 21/2017/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ là 50 triệu. Hạn mức này đã được duy trì trong 11 năm, trong khi điều kiện kinh tế vĩ mô như: GDP bình quân đầu người, tỷ giá, lạm phát, lãi suất… có nhiều biến động, mà hạn mức không thay đổi làm mất đi sự yên tâm cho người gửi.

Sự thay đổi mức hạn chi bảo hiểm tiền gửi được các nước trên thế giới điều chỉnh rất linh hoạt, dựa theo tình hình phát triển kinh tế – xã hội mỗi quốc gia. Chẳng hạn, Mỹ đã đối phó với khủng hoảng tài chính năm 2008 bằng cách, tăng mức chi trả bảo hiểm tiền gửi từ 100.000 USD lên đến 250.000 USD, đến hết 31/12/2013. Sau khủng hoảng Mỹ tiếp tục thực hiện cam kết chi trả 250.000 USD lâu dài.

Tại Đài Loan để đối phó với khủng hoảng tài chính năm 2008, cũng đã cam kết tăng mức bảo hiểm này từ 1,5 triệu Đài t, lên gấp đôi thành 3 triệu Đài tệ, đến hết 31/12/2010. Và sau khủng hoảng Đài Loan vẫn thực hiện cam kết chi trả 3 triệu Đài tệ.

Năm 2013, Ngân hàng Nhà nước và Chính phủ đã có thảo luận và đề xuất, về việc chi trả Bảo hiểm tiền gửi lên 200 triệu đồng. Tương đương với 5 lần GDP bình quân đầu người của Việt Nam, tính tại thời điểm ngày 31/12/2013. Mặc dù theo tính toán, con số này vẫn chưa hề phù hợp. Tuy nhiên, không hiểu vì sao mà đề xuất này lại không được thực hiện.

Huy động vàng và ngoại tệ cần tạo bao nhiêu “niềm tin” mới đủ?

Để tìm hiểu được rõ vấn đề này, cần phải phân tích các con số đánh giá khách quan. Thứ nhất, là về mức độ rủi ro giữa bảo hiểm tiền gửi với việc ngân hàng phá sản.

Từ năm 1975 đến nay, ở Việt Nam chưa có ngân hàng thương mại nào tuyên bố phá sản. Nhưng điều đó không có nghĩa là nhân dân sẽ có niềm tin rằng ngân hàng phá sản là không bao giờ xảy ra.

Nhất là Thông tư 07/2013-TT/NHNN của Ngân hàng Nhà nước đã xuất hiện cụm từ “phá sản”?
Niềm tin của nhân dân vào việc huy động vốn cũng bị ảnh hưởng nặng, bởi việc Ngân hàng Nhà nước mua lại 3 ngân hàng với giá 0 đồng. Đó là: GPBank, OceanBank và CBBank) và DongA Bank (bị NHNN vào ngày 13/8/2015 ra Quyết định kiểm soát đặc biệt).

Rất khó để phát hiện ngân hàng yếu kém để mà đánh cược tỉ lệ "rủi ro" trong tiền gửi

Rất khó để phát hiện ngân hàng yếu kém để mà đánh cược tỉ lệ “rủi ro” trong tiền gửi

Dù về mặt lý thuyết đó không phải là phá sản, mà được xem là một cuộc “mua bán” có giấy tờ pháp lý. Nhưng thực chất thì đó lại là một hoạt động phá sản, mà việc mua lại là cách Ngân hàng nhà nước dùng để “mua lại” lòng tin từ nhân dân.

Cả 3 ngân hàng thương mại đã được Ngân hàng Nhà nước mua lại với giá 0 đồng. Nhưng đến nay vẫn chưa thể đi vào hoạt động ổn định, vẫn còn thua lỗ trong hoạt động tín dụng và tình trạng tài chính không được cải thiện sau 2 năm.

Niềm tin về việc huy động vốn cũng bị ảnh hưởng, khi bàn về dự thảo Luật Hỗ trợ tái cơ cấu các tổ chức tín dụng và xử lý nợ xấu. Cổng thông tin điện tử Chính phủ đã có nội dung bàn về việc chấm dứt mua lại ngân hàng với giá 0 đồng.

Thứ hai, đó là về con số 500 tấn vàng và 10 tỷ USD có thực sự là số vốn chết mà nhân dân có?
Có thật sự 500 tấn vàng trong dân có phải là con số thực tế mà Hiệp hội Kinh doanh vàng Việt Nam công bố.

Khi mà, các chuyên gia nói rằng đó chỉ là con số tham khảo, dựa vào công bố của Hiệp hội Kinh doanh vàng thế giới về số lượng vàng nhập khẩu vào Việt Nam trong thời gian qua.

Bởi trong 500 tấn vàng được nhập vào Việt Nam đó, thì khoảng 72% là nằm trong các doanh nghiệp, công ty kinh doanh vàng. Còn khoảng 27% số vàng còn lại nằm rải rác trong dân (1%nằm trong ngân hàng thương mại), vậy nên để huy động trong nhân dân được tỉ lệ 500 tấn vàng này là rất ít.

Đó là chưa tính việc Nhà nước áp dụng lãi suất trần của ngoại tệ là 0%, điều này đồng nghĩa với việc giữ trong nhà và mang cho Nhà nước “mượn” đều có tỉ lệ như nhau, rất khó thu hút.

Trong khi Việt Nam vẫn phải vay ngoại tệ với lãi suất 1,5-2% một năm. Thì tại sao trong nước không tăng lãi suất trần lên 0,25 – 0,5%/năm, để nguy cơ chảy máu ngoại tệ vừa giảm, mà tỉ lệ trả lãi suất của Nhà nước cũng thấp.

Năm 1945, sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời. Chính phủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh vận động toàn dân quyên góp 2 hoạt động lớn đó là: Huy động toàn dân chống giặc đói và Tuần lễ vàng.

Chỉ trong một năm huy động chống giặc đói, từ ngày 28/9/1945 đến tháng 5/1945, cả nước đã thực hiện vận chuyển 30.000 tấn gạo từ Nam ra Bắc; thực hiện tăng gia sản xuất từ gần như con số 0 lên 614.000 tấn thóc.

Sự kiện Tuần lễ vàng nhằm kêu gọi đóng góp cho Chính phủ có ngân sách điều hành đất nước, đã đạt tới 20 triệu đồng Đông Dương và 370 kg vàng. Riêng gia đình tư sản dân tộc yêu nước – Trịnh Văn Bô đã đóng góp 117 lượng vàng ngày đó. Trong suốt 9 năm kháng chiến chống Pháp, ông bà Trịnh Văn Bô đã đóng góp trên 5.000 lượng và các tài sản vật chất khác.

Tuần lễ vàng là bài học lớn lao về niềm tin của nhân dân vào đất nước

Tuần lễ vàng là bài học lớn lao về niềm tin của nhân dân vào đất nước

Trong chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ cứu nước, các đợt huy động người và vật đã đưa hàng triệu cán bộ, chiến sĩ, hàng chục triệu tấn quân lương, quân nhu, vũ khí… được chuyển vào mặt trận. Ngoài các chiến sĩ, thì còn có lực lượng dân công, thanh niên xung phong… túc trực tại địa phương để hỗ trợ.

Mọi tài sản trong dân được mang ra phục vụ cho công cuộc thống nhất đất nước. Ngoại xâm đe dọa, nguồn vốn trong dân được khơi dậy hết mình. Còn thời bình, điều này thực sự không hề dễ chút nào.

Để xây dựng và phát triển đất nước, cần phải có nguồn nhân lực dồi dào. Muốn có Chính phủ phải đi vay, nhưng vay mãi cũng không được. Vậy đành phải huy động vốn trong dân, nhất là vàng và ngoại tệ thì càng có giá.

Nhưng làm sao để người dân có được niềm tin? Khi mà đồng nội tệ thường xuyên mất giá; một số hoạt động kinh tế của các doanh nghiệp Nhà nước không hiệu quả; liên tục báo lỗ, bảo hiểm tiền gửi không mang lại sự an toàn cho đồng tiền nhân dân gửi; tình trạng tham nhũng tăng cao;…

Vàng bạc, tiền là tài sản mà nhiều người muốn tích trữ để phòng khi ốm đau, đói kém, để lúc cuối đời có chia cho con cháu. Nếu ở trong dân, con số đó rất nhỏ lẻ. Vậy làm cách nào để Nhà nước có thể giải quyết được vấn đề đó, làm thế nào để thể tạo được niềm tin trong dân?

Chừng nào Nhà nước chưa đưa ra các sửa đổi, chính sách bền vững bảo vệ lợi ích người dân. Thì khó mà có thể tạo cho nhân dân sự “mặn mà” với Nhà nước.